Antoine Mekary | ALETEIA


Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 29/04/2026 của tạp chí Aleteia, cho hay: Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng thời gian ngài ở bốn quốc gia châu Phi là một "kho báu vô giá đối với trái tim và sứ mệnh của tôi."

"Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng là một cơ hội để người dân châu Phi được lên tiếng," Đức Giáo Hoàng Leo XIV giải thích trong buổi tiếp kiến chung ngày 29 tháng 4 năm 2026. Sáu ngày sau khi trở về từ chuyến tông du 11 ngày qua bốn quốc gia châu Phi (Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích đạo), Đức Giáo Hoàng đã điểm lại một số vấn đề chính của chuyến đi, như thường lệ trong buổi tiếp kiến chung đầu tiên sau một chuyến tông du.

Được chào đón tại Quảng trường Thánh Phêrô bởi hàng ngàn tín hữu tụ tập dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ, Đức Giáo Hoàng đã suy gẫm về một hành trình được thực hiện trong những ngày mưa tầm tã, và diễn ra qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều giàu ý nghĩa. Nhận thấy rằng ngài đã bắt đầu cân nhắc chuyến đi này từ những ngày đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Giáo Hoàng Leo XIV giải thích rằng ngài cảm nhận được đó là "một thông điệp hòa bình trong thời điểm lịch sử đầy rẫy chiến tranh và những vi phạm nghiêm trọng và thường xuyên luật pháp quốc tế."

Buổi tiếp kiến chung này là buổi đầu tiên được tổ chức với sự hiện diện của tân Tổng quản Phủ Giáo hoàng, Đức Tổng Giám Mục Petar Rajič, được Đức Giáo Hoàng Leo XIV bổ nhiệm vào ngày 30 tháng 3. Chức vụ này đã bị bỏ trống kể từ khi Đức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, nắm giữ chức vụ này lần cuối.

Sau đây là bản dịch bài giáo lý của ngài, dựa vào bản tiếng Anh của Tòa Thánh

Anh chị em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng!

Hôm nay tôi muốn nói về Chuyến Tông du mà tôi đã thực hiện từ ngày 13 đến 23 tháng 4, thăm bốn quốc gia châu Phi: Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích đạo.

Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, tôi đã nghĩ đến một chuyến đi đến châu Phi. Tôi tạ ơn Chúa đã ban cho tôi cơ hội thực hiện chuyến đi này, với tư cách là Mục tử, để gặp gỡ và khích lệ dân Chúa; và cũng để trải nghiệm nó như một thông điệp hòa bình trong thời điểm lịch sử đầy rẫy chiến tranh và những vi phạm nghiêm trọng và thường xuyên luật pháp quốc tế. Và tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các giám mục và chính quyền dân sự đã đón tiếp tôi, và đến tất cả những người đã giúp tổ chức chuyến thăm.

Sự quan phòng của Chúa đã sắp đặt để điểm dừng chân đầu tiên chính là đất nước nơi có các địa điểm liên quan đến Thánh Augustinô, tức Algeria. Vì vậy, một mặt, tôi thấy mình đang trở lại cội nguồn bản sắc tâm linh của mình và mặt khác, tôi đang bắc cầu và củng cố những cây cầu rất quan trọng đối với thế giới và Giáo hội ngày nay: cây cầu với thời đại đầy sức sống của các Giáo phụ; cây cầu với thế giới Hồi giáo; và cây cầu với lục địa châu Phi.

Tại Algeria, tôi đã nhận được sự đón tiếp không chỉ tôn trọng mà còn nồng ấm, và chúng tôi đã có thể trực tiếp trải nghiệm và cho thế giới thấy rằng có thể sống chung với nhau như anh chị em, ngay cả khi khác tôn giáo, khi chúng ta nhận ra nhau là con cái của cùng một người Cha nhân từ. Hơn nữa, đó là một cơ hội kịp thời để học hỏi từ tấm gương của Thánh Augustinô: qua kinh nghiệm sống, các tác phẩm và đời sống tâm linh của ngài, ngài là một bậc thầy trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và chân lý. Một minh chứng quan trọng hơn bao giờ hết đối với các Kitô hữu và mỗi người trong thời đại ngày nay.

Ở ba quốc gia tiếp theo tôi đến thăm, dân số chủ yếu là Kitô hữu, và do đó tôi thấy mình được hòa mình vào bầu không khí hân hoan của đức tin và sự đón tiếp nồng hậu, được tô điểm thêm bởi những nét đặc trưng của người dân châu Phi. Giống như những vị tiền nhiệm của tôi, tôi cũng trải nghiệm điều gì đó tương tự như những gì đã xảy ra với Chúa Giêsu giữa đám đông ở Ga-li-lê: Người thấy họ khát khao và đói khát công lý, và tuyên bố với họ: “Phúc cho người nghèo, phúc cho người hiền lành, phúc cho người kiến tạo hòa bình”, và, nhận biết đức tin của họ, Người phán: “Các ngươi là muối của đất và là ánh sáng của thế gian” (xem Mt 5:1-16).

Chuyến thăm Cameroon cho phép tôi củng cố lời kêu gọi cùng nhau nỗ lực vì sự hòa giải và hòa bình, bởi vì đất nước đó, thật không may, cũng bị ảnh hưởng bởi căng thẳng và bạo lực. Tôi rất vui mừng khi được đến Bamenda, thuộc vùng nói tiếng Anh, nơi tôi đã khuyến khích mọi người cùng nhau làm việc vì hòa bình. Cameroon được biết đến như “châu Phi thu nhỏ”, ám chỉ sự đa dạng và phong phú của môi trường tự nhiên, tài nguyên của nó, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu cách diễn đạt này có nghĩa là những nhu cầu lớn lao của toàn lục địa đều nằm ở Cameroon: nhu cầu phân phối của cải công bằng; nhu cầu tạo không gian cho giới trẻ, khắc phục nạn tham nhũng tràn lan, thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững, chống lại các hình thức tân thực dân khác nhau bằng sự hợp tác quốc tế có tầm nhìn xa. Tôi cảm ơn Giáo hội ở Cameroon và toàn thể người dân Cameroon, những người đã đón tiếp tôi với tình yêu thương xiết bao, và tôi cầu nguyện rằng tinh thần hiệp nhất đã thể hiện rõ trong chuyến thăm của tôi sẽ được giữ vững và hướng dẫn những lựa chọn và hành động trong tương lai.

Giai đoạn thứ ba của chuyến đi là ở Angola, một quốc gia rộng lớn phía nam xích đạo, với truyền thống Kitô giáo lâu đời, gắn liền với thời kỳ thuộc địa của Bồ Đào Nha. Giống như nhiều quốc gia châu Phi khác, sau khi giành được độc lập, Angola đã trải qua một thời kỳ khó khăn, trong trường hợp của nước này là cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu. Trong thử thách của lịch sử này, Chúa đã hướng dẫn và thanh tẩy Giáo hội, ngày càng biến đổi Giáo hội để phục vụ Tin Mừng, thúc đẩy sự tiến bộ của con người, hòa giải và hòa bình. Một Giáo hội tự do cho một dân tộc tự do! Tại Thánh đường Đức Mẹ Mamã Muxima – có nghĩa là “Mẹ của trái tim” – tôi cảm nhận được nhịp đập trái tim của người dân Angola. Và trong các buổi gặp gỡ khác nhau, tôi vui mừng khi thấy rất nhiều nam nữ tu sĩ ở mọi lứa tuổi, một lời tiên tri về Nước Trời giữa lòng dân tộc họ; tôi thấy các giáo lý viên tận tâm cống hiến hết mình cho lợi ích cộng đồng; tôi thấy nhiều người già chai sạn vì lao động và đau khổ nhưng vẫn rạng rỡ niềm vui của Tin Mừng; tôi thấy nữ giới và nam giới nhảy múa theo nhịp điệu của những bài ca ngợi Chúa Phục Sinh, nền tảng của một niềm hy vọng vượt qua những thất vọng do các hệ tư tưởng và những lời hứa suông của những kẻ quyền lực gây ra.

Niềm hy vọng này đòi hỏi sự cam kết cụ thể, và Giáo hội có trách nhiệm, bằng chứng nhân và sự loan báo can đảm Lời Chúa, để công nhận quyền của tất cả mọi người và thúc đẩy việc tôn trọng các quyền đó trên thực tế. Với chính quyền dân sự Angola, cũng như với chính quyền của các quốc gia khác, tôi đã có thể đảm bảo với họ về sự sẵn lòng của Giáo Hội Công Giáo trong việc tiếp tục đóng góp này, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Quốc gia cuối cùng tôi đến thăm là Guinea Xích đạo, 170 năm sau lần truyền giáo đầu tiên. Với sự khôn ngoan của truyền thống và ánh sáng của Chúa Kitô, người dân Guinea đã vượt qua những thăng trầm của lịch sử và, trong những ngày gần đây, trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng, đã nhiệt tình đổi mới quyết tâm cùng nhau hướng tới một tương lai đầy hy vọng.

Tôi không thể quên những gì đã xảy ra trong nhà tù ở Bata, Guinea Xích đạo: các tù nhân đã hát vang bài ca tạ ơn Chúa và Đức Giáo Hoàng, cầu xin ngài cầu nguyện “cho tội lỗi của họ và cho sự tự do của họ”. Tôi chưa từng thấy điều gì như vậy. Và sau đó họ cùng tôi đọc kinh “Lạy Cha” dưới cơn mưa tầm tã. Một dấu hiệu đích thực của Nước Thiên Chúa! Và ngay cả trong cơn mưa, cuộc gặp gỡ trọng đại với giới trẻ đã bắt đầu tại sân vận động ở Bata. Một lễ hội của niềm vui Kitô giáo, với những lời chứng cảm động từ những người trẻ tuổi đã tìm thấy trong Tin Mừng con đường dẫn đến sự trưởng thành tự do và có trách nhiệm. Lễ hội này lên đến tuyệt đỉnh trong Thánh lễ vào ngày hôm sau, xứng đáng khép lại chuyến thăm Guinea Xích đạo, cũng như toàn bộ Hành trình Tông đồ.

Anh chị em thân mến, chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng là cơ hội để người dân châu Phi được cất tiếng nói, để bày tỏ niềm vui khi là dân Chúa và niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, về phẩm giá cho mỗi người. Tôi rất vui vì đã mang đến cho họ cơ hội này, và đồng thời tôi tạ ơn Chúa vì những gì họ đã ban cho tôi, một kho báu vô giá cho trái tim và sứ vụ của tôi.