
R. R. RENO, chủ bút tạp chí First Things, trong bản tin ngày 24 tháng 4 năm 2026, nhận định rằng: Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã có một sự can thiệp thiếu cân nhắc vào cuộc chiến pháp lý về quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ [birthright citizenship]. Sau khi nhậm chức vào năm 2025, Donald Trump đã ban hành một sắc lệnh hành pháp quy định rằng những người cư trú bất hợp pháp tại Hoa Kỳ không “thuộc quyền tài phán” của Hoa Kỳ, và do đó con cái của họ không đủ điều kiện để được hưởng quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ. Sắc lệnh hành pháp này đã bị thách thức tại tòa án. Tòa án Tối cao sẽ sớm đưa ra phán quyết về vấn đề này (Trump kiện Barbara). Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã đệ trình một bản kiến nghị ủng hộ [amicus brief] vụ kiện, kêu gọi tòa án phán quyết chống lại sắc lệnh hành pháp của Trump.
Bản kiến nghị của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ trích dẫn sự khẳng định của giáo huấn Công Giáo hiện đại về phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người. Trong các vấn đề về luật nhập cư và việc thực thi luật này, nguyên tắc này đòi hỏi “một cách tiếp cận toàn diện và nhân đạo đối với vấn đề di dân, đảm bảo rằng phẩm giá do Chúa ban cho tất cả mọi người được tôn trọng”. Điều này chắc chắn là đúng. Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB) tiếp tục khẳng định rằng quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ là “phù hợp với giáo lý Công Giáo”. Điều đó cũng đúng. Nhiều cách tiếp cận về quyền công dân đều phù hợp với giáo lý Công Giáo.
Sau đó, bản tóm tắt lại có một bước ngoặt kỳ lạ. Nó khẳng định rằng bất cứ sự hạn chế nào đối với quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ đều là “vô đạo đức và trái với những niềm tin và giáo lý cơ bản của Giáo Hội Công Giáo về sự sống và phẩm giá của con người, việc đối xử với những người dễ bị tổn thương—đặc biệt là người di dân và trẻ em—và sự đoàn kết gia đình”. Nói cách khác, giáo lý Công Giáo yêu cầu quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ không giới hạn và không bị hạn chế.
Đây là một tuyên bố kỳ lạ. Khi nói đến quyền công dân, Hoa Kỳ là ngoại lệ chứ không phải là quy tắc. Chỉ riêng trong số các quốc gia giàu có, Hoa Kỳ và Canada mới cấp quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ vô điều kiện. Nhiều quốc gia châu Á, châu Âu và Trung Đông cấp quyền công dân theo nguyên tắc cổ xưa của jus sanguinis (“quyền huyết thống”), chứ không phải jus soli (“quyền do nơi sinh”). Hầu hết các quốc gia châu Á đều hạn chế quyền công dân theo cách này, cũng như nhiều quốc gia châu Âu. Tại Vương quốc Anh và các nơi khác, nguyên tắc jus soli chỉ áp dụng cho trẻ em có ít nhất một phụ huynh là thường trú nhân hoặc công dân hợp pháp. Sự hạn chế quyền công dân theo nơi sinh này về cơ bản giống với quy định trong sắc lệnh hành pháp của chính quyền Trump.
Trên thực tế, các giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đang nói rằng đại đa số các quốc gia có luật nhập cư vi phạm giáo lý Công Giáo thiết yếu về phẩm giá của tất cả mọi người. Đây là một lập trường gây sốc, nhưng nó không làm tôi ngạc nhiên. Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo cho phép (cũng như bản kiến nghị ủng hộ) rằng các quốc gia có quyền kiểm soát biên giới của mình. Tuy nhiên, trong nhiều dịp, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên án những nỗ lực ngăn chặn di dân là “tội trọng”. Giáo lý hiện tại của Giáo Hội Công Giáo về vấn đề di dân tương tự như giáo lý của Giáo hội về chiến tranh. Giáo Hội Công Giáo đương thời kết hợp học thuyết chiến tranh chính nghĩa vào giáo lý chính thức của mình, nhưng lập trường của Giáo hội đã phát triển theo hướng chủ nghĩa chủ hòa thực dụng. Về mặt pháp lý, Giáo Hội Công Giáo cho phép kiểm soát biên giới. Về mặy thực tế, Giáo hội ủng hộ quyền di dân gần như không giới hạn.
Bản kiến nghị ủng hộ [amicus] cố gắng xây dựng một lập luận: Mọi người có nhu cầu cơ bản đều là một phần của cộng đồng; Bất cứ sự sửa đổi hoặc hạn chế nào đối với quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ đều tước đoạt nhu cầu cơ bản đó của một đứa trẻ sơ sinh; do đó, những biện pháp như vậy vi phạm phẩm giá con người.
Lập luận này không đáng tin cậy, bởi vì tiền đề phụ quá rõ ràng là sai. Khi một nhà tài phiệt Trung Quốc gửi vợ mình đến Los Angeles để sinh con, ông ta đã có một cộng đồng, một cộng đồng rất vui mừng chào đón đứa trẻ. Việc hạn chế quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra trên lãnh thổ nhằm ngăn chặn "du lịch sinh con" không tước đoạt của đứa trẻ quyền được hưởng lợi ích thiết yếu được tham gia vào xã hội.
Điều tương tự cũng đúng với đại đa số các cá nhân và gia đình vượt biên trái phép. Họ không phải là người không quốc tịch. Quốc gia của họ có thể có chính phủ yếu kém và nền kinh tế trì trệ, nhưng họ vẫn có xã hội nguyên vẹn. Họ không đến đây vì bị trục xuất và trở thành người không quốc tịch. Họ chỉ đơn giản là muốn định cư ở Mỹ. Trong nhiều trường hợp, đó là một thôi thúc dễ hiểu. Nhưng không có nguyên tắc nào trong giáo lý xã hội Công Giáo quy định cho mỗi người trên thế giới quyền cư trú hoặc quyền công dân trong xã hội mà họ lựa chọn.
Những đứa trẻ sinh ra từ những người cư trú bất hợp pháp ở đây không hề đưa ra lựa chọn nào. Nhưng thật sai lầm khi nói rằng việc từ chối quyền công dân sẽ tước đoạt khả năng tham gia đầy đủ vào xã hội của họ. Gia đình họ có thể trở về quê hương, nơi mà trong hầu hết các trường hợp, sự quen thuộc về phong tục tập quán, ngôn ngữ chung và sự hiện diện của mạng lưới gia đình sẽ khiến trẻ em cảm thấy mình là những thành viên tự nhiên và không thể thiếu của xã hội hơn so với việc chúng lớn lên ở Hoa Kỳ.
Bản kiến nghị ủng hộ nhấn mạnh vào nhu cầu lớn lao này để có tư cách thành viên đầy đủ trong cộng đồng nơi mình sinh ra. Nhưng thật viển vông khi tưởng tượng rằng một đứa trẻ sinh ra ở Boston, con của một sinh viên cao học đến từ Ấn Độ, người đã đến Hoa Kỳ để hoàn thành bằng tiến sĩ, lại là một người dễ bị tổn thương. Cậu bé không bị bỏ rơi trên thế giới mà không có nhà cửa hay cộng đồng nào khác ngoài Hoa Kỳ. Ngược lại, quê hương của mẹ cậu bé duy trì một nền văn hóa cổ xưa và sâu sắc hơn nhiều so với nền văn hóa của chúng ta. Bất chấp những sự thật hiển nhiên này, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB) lại cho rằng chính sách quyền công dân tuyệt đối theo nơi sinh là cách duy nhất để bảo vệ phẩm giá con người.
Có nhiều lý do để ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh. Mặc dù là một phần của luật pháp thông thường, nhưng nó chỉ được chính thức thiết lập bởi Tu chính án thứ 14 để đảm bảo quyền công dân cho những nô lệ được giải phóng, những người có tổ tiên đã bị đưa đến đất nước này trái với ý muốn của họ. Quyền công dân theo nơi sinh sẽ được áp dụng cho con cái của làn sóng người nhập cư đến vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các nhà lãnh đạo của Mỹ nhận ra rằng quyền công dân theo nơi sinh khuyến khích sự đồng hóa và thúc đẩy tình đoàn kết công dân, tức là lợi ích chung. Đất đai phải được khai hoang ở vùng Trung Tây. Các nhà máy cần công nhân. Việc liên lạc với quê nhà rất khó khăn. Những người đến đây sẽ trở thành người Mỹ.
Trong thời đại di dân ồ ạt hiện nay, hoàn cảnh đã khác. Nhiều người nhập cư đi lại giữa Hoa Kỳ và quê hương của họ. Thị thực lao động H-1B được thiết kế cho người lao động tạm thời, cũng như thị thực cho nhiều loại lao động nông nghiệp. Điều tương tự cũng áp dụng cho thị thực sinh viên. Có thể đưa ra lập luận mạnh mẽ rằng con cái của những người đang ở Hoa Kỳ bằng thị thực sinh viên và các chương trình khác giả định cư trú tạm thời không nên được hưởng quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra tại Hoa Kỳ. Trong các trường hợp khác, có lẽ cha mẹ nên được yêu cầu đáp ứng yêu cầu về thời gian cư trú. Hoặc có thể yêu cầu tình trạng pháp lý hợp lệ - tiêu chuẩn do chính quyền Trump đưa ra. Những hạn chế này chắc chắn đang được tranh luận. Nhưng chỉ những người mù quáng trước thực tế của thế kỷ XXI mới không nhận ra rằng chính sách quyền công dân theo nguyên tắc sinh ra tại Hoa Kỳ không giới hạn sẽ gây hại cho lợi ích chung và làm xói mòn tình đoàn kết công dân.
Di dân ồ ạt vào các quốc gia giàu có trên khắp phương Tây đại diện cho một trong những biến động kinh tế, chính trị và văn hóa lớn nhất của thời đại chúng ta. Chúng ta cần suy gẫm đạo đức thực tế để giúp chúng ta hiểu những gì nên và không nên làm trong nỗ lực điều tiết phong trào di dân chưa từng có này. Thật không may, bản kiến nghị của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB) trong vụ Trump kiện Barbara lại theo một khuôn mẫu đáng buồn. Thay vì đưa ra một lập luận đạo đức thuyết phục, quá nhiều nhà lãnh đạo Công Giáo, bao gồm cả các vị giáo hoàng, lại sử dụng “phẩm giá con người” như một cái cớ đa năng cho các chính sách mà họ ưa thích. Tôi e rằng, theo thời gian, lập trường hùng biện này, được sử dụng để ủng hộ những quan điểm rõ ràng là phi luận lý học, sẽ làm mất uy tín của chính khái niệm phẩm giá con người.