Francis X. Maier, trên The Catholic Thing, ngày 27 tháng 8 năm 2025, viết: Tháng 7 năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 250 năm thành lập Hoa Kỳ. Chẳng may, lễ kỷ niệm năm sau lại diễn ra giữa một chu kỳ bầu cử khác, và vào thời điểm có những chia rẽ văn hóa sâu sắc. Chúng ta cần một nền chính trị “vì lợi ích chung” hơn bao giờ hết. Nhưng nói thì dễ hơn làm. Đây là lý do.

Trong tư tưởng Công Giáo, lĩnh vực chính trị chủ yếu là trách nhiệm của giáo dân – những người phức tạp và hay bị phân tâm như bạn và tôi – chứ không phải của hàng giáo sĩ. Nhưng cuộc nội chiến bên trong Giáo hội về ý nghĩa thực sự của Công đồng Vatican II, và sự nhầm lẫn do đó gây ra về vấn đề nào nên được ưu tiên trong việc hoạt động vì lợi ích chung, vẫn chưa kết thúc.

Hoàn toàn ngược lại: Trong triều Giáo hoàng Phanxicô, những mâu thuẫn lại trở nên gay gắt hơn. Và con đường của triều Giáo hoàng Leo, mặc dù đầy hứa hẹn, vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Thêm vào đó, khối quan liêu của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, với nhu cầu cần sự đồng thuận tập thể từ các thành viên, tạo ra sự trì trệ. Điều này khiến bất cứ hành động nhanh chóng, rõ ràng và quyết đoán nào của hội đồng giám mục đều khó đạt được. Thêm vào đó, nguy cơ Giáo hội bị phe cánh tả và cánh hữu chính trị lợi dụng luôn hiện hữu, và luôn tốn kém một cách vô cùng lớn.

Do đó, vai trò “chính trị” của Giáo hội, trong các cấu trúc quốc gia và giáo phận, hiếm khi chỉ dừng lại ở việc cung cấp các nguyên tắc cơ bản về đạo đức và công lý, cũng như giao tiếp và vận động hành lang ở cấp độ Hội đồng Giám mục với các cơ quan chính phủ về một loạt các vấn đề.

Nói một cách rộng rãi, đó là cách Giáo hội tại Hoa Kỳ hoạt động về mặt thể chế, với tư cách là một cộng đồng tín hữu có tổ chức. Tuy nhiên, cần xem xét thêm một vài điểm, hầu hết trong số đó đều hiển nhiên đối với người quan sát tỉnh táo:

1. Giáo hội luôn tìm kiếm một modus vivendi (tạm dịch: phương thức sống) với thẩm quyền công cộng - ở mọi quốc gia, trong mọi thế kỷ. Chiến lược hòa hợp này vừa có cơ sở thực tiễn vừa dựa trên Kinh Thánh. Nhưng nó cũng có những điểm yếu. Mong muốn giảm thiểu xung đột với chính quyền thế tục khiến Giáo hội dễ thỏa hiệp và tránh đối đầu theo cách không phải lúc nào cũng khôn ngoan. Hơn nữa, với vị thế thiểu số ở đất nước chúng ta, Giáo hội luôn khao khát hòa nhập và chứng minh lòng trung thành của mình. Kết quả của sự khao khát đó ngày nay, được duy trì qua nhiều thế hệ, là hầu hết người Công Giáo giờ đây mang đậm chất Mỹ hơn là Công Giáo. Nhiều giám mục, theo lời họ, là "những vị tướng không có quân đội". Điều này làm giảm sức mạnh chính trị của Công Giáo như một cộng đồng riêng biệt và gắn kết.

Mô-sê chỉ cho người Israel những tấm bia Luật của Maerten De Vos, [Mauritshuis, The Hague]


2. Nhiều người Công Giáo Mỹ, và thậm chí một số nhà lãnh đạo Giáo hội, vẫn cho rằng chúng ta đang sống trong một đất nước (trên thực tế) không còn tồn tại nữa - ít nhất là không phải dưới hình thức mà họ tưởng tượng. Những thay đổi về nhân khẩu học, kỹ thuật, pháp lý và văn hóa đã biến đổi Hoa Kỳ trong 70 năm qua. Nhưng ảo tưởng về nước Mỹ như một nền tảng Kitô giáo ngầm, hoặc ít nhất là dựa trên Kinh Thánh, vẫn tồn tại. Và nó mạnh mẽ nhất trong số những người Công Giáo thực hành thuộc thế hệ bùng nổ dân số như tôi, những người vẫn có kiến thức khá chính xác về Nền tảng. Ở nhiều giáo phận, đây chính là nhóm tuổi, hiện đang suy yếu dần, những người tham gia tích cực nhất vào Giáo hội và cũng là những người hào phóng nhất.

3. Chúng ta có bổn phận trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar. Nhưng bổn phận đó đòi hỏi một mức độ thận trọng lành mạnh của người Công Giáo. Dù Caesar có hình thức chính quyền nào, ông luôn có ba đặc điểm nổi bật: (a) phạm vi thẩm quyền hợp pháp của ông rất hạn chế; (b) ông nghĩ rằng nó lớn hơn nhiều so với thực tế; và (c) ông không bao giờ là một người bạn đáng tin cậy, bất kể ông có vẻ thân thiện đến đâu. Điều này cho thấy rằng trong khi các vấn đề như bảo vệ thai nhi và bảo vệ quyền tự do tôn giáo là vô cùng quan trọng và phải được theo đuổi, thì nhiệm vụ cơ bản hơn đối với Giáo hội là giáo dục người Công Giáo xây dựng một khoảng cách lành mạnh giữa họ và lòng trung thành của họ đối với thử nghiệm và văn hóa của Mỹ.

4. Khi số lượng và thực hành Công Giáo suy giảm, ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Kitô giáo cũng giảm theo. Theo các nhà tư tưởng thế tục, “lợi ích chung” có thể rất khác so với ý tưởng tương tự theo Tin Mừng. Cũng cần lưu ý rằng không có “lợi ích chung” nào có thể tồn tại nếu không có sự hiểu biết chung về việc con người là ai, tại sao và điều gì quyết định số phận đích thực của họ. Văn hóa Mỹ hiện nay tự đặt mình vào thế đối lập với bất cứ câu chuyện định nghĩa nào như vậy nhân danh quyền tự chủ cá nhân. Điều này có những hàm ý dân sự to lớn, bởi vì chính trị được xây dựng trên nền tảng nhân chủng học.

Đức Gioan Phaolô II đã nhận thấy điều này ngay từ đầu triều giáo hoàng của ngài. Tất cả giáo huấn của ngài đều được triển khai một cách có phương pháp từ thông điệp đầu tiên của ngài, Redemptor Hominis, “Đấng Cứu Chuộc Con Người”. Thật không may, triều giáo hoàng Phanxicô không có một hệ thống tư tưởng bài bản như vậy. Triều đại này cũng có một sự không ưa theo bản năng đối với Hoa Kỳ. Triều đại này cũng có thể có vẻ mơ hồ trong cách tiếp cận đối với hậu quả của cuộc cách mạng tình dục. Điều này đã hạn chế khả năng của nó trong việc tác động đến người Công Giáo Mỹ bằng cách truyền cảm hứng hoặc giúp họ đối phó với môi trường Hoa Kỳ đang nổi lên và đầy thách thức ngày nay.

5. Cuối cùng, một trong những điều “chính trị” quan trọng nhất mà Giáo hội có thể làm là chấm dứt các chức vụ và cơ cấu không hữu hiệu của chính mình, và tập trung vào việc đào tạo các nhà lãnh đạo trẻ trung trung thành, những người có thể làm chứng cho Tin mừng trong một môi trường văn hóa mới, một môii trường, cứ thẳng thắn mà nói, không phải là ngoại giáo, nhưng còn tệ hơn cả ngoại giáo. Như C.S. Lewis đã nói, những người ngoại giáo thực sự ít nhất cũng có cảm nhận về một thế giới huyền diệu và những thực tại siêu nhiên đằng sau nó. Những người “hậu Kitô giáo” ngày nay thậm chí còn thiếu điều đó.

Nhà triết học Công Giáo vĩ đại người Pháp Rémi Brague lưu ý trong cuốn sách Luật Chúa của mình rằng hai tôn giáo “chính trị” lớn – Hồi giáo và Kitô giáo – khác biệt hoàn toàn trong cuộc gặp gỡ lịch sử của họ với xã hội dân sự. Hồi giáo đã chinh phục và áp đặt chính trị, bằng vũ lực, từ bên ngoài. Kitô giáo đã dần dần cải đạo xã hội từ bên trong, từng người và từng cộng đồng một, mà không có ý định chính trị rõ ràng nào.

Điều đó đã xảy ra một lần. Nó có thể xảy ra lần nữa. Thách thức hoán cải tương tự cũng hiện hữu ngày nay, nhưng với một trở ngại nghiêm trọng hơn, bởi vì chiều kích siêu nhiên/bí tích của cuộc sống dường như đã bị tách biệt khỏi trí tưởng tượng hiện đại. Việc khôi phục chiều kích này là công việc của một thế hệ lãnh đạo mới, đó là lý do tại sao các nỗ lực giáo dục và đào tạo Công Giáo, cũng như các hoạt động tông đồ như Diễn đàn Leonine, FOCUS, và các tổ chức khác, vẫn vô cùng quan trọng. Đó chính là nguồn năng lực. Chúng ta cũng cần sự hỗ trợ của chính mình.