Ngày 15-01-2026
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Chủ nghĩa giáo sĩ, phẩm trật và huyền thoại đồng quản trị
Vũ Văn An
13:58 15/01/2026

Niwa Limbu, trong bản tin của Catholic Herald ngày 13 tháng 1, 2026, cho biết: Vào cuối phiên họp của công nghị đặc biệt, các nhân vật cấp cao của Giáo hội đã giải đáp các câu hỏi về tính đồng nghị và vai trò của giáo dân trong một cuộc họp báo của Tòa Thánh.



Buổi họp báo có sự tham gia của Hồng Y Luis José Rueda Aparicio, Hồng Y Stephen Brislin và Hồng Y Pablo David, đưa ra những hiểu biết của họ về cách thức tiến trình đồng nghị đang được hiểu khi nó phát triển. Tờ Catholic Herald đã hỏi các Hồng Y làm thế nào để đảm bảo tính đồng nghị, được một số người mô tả là còn non trẻ, vẫn bám rễ vào giáo lý và truyền thống, và những sự khác biệt nào đang được đưa ra giữa sự tham gia hợp pháp của giáo dân và các chức năng dành riêng cho chức linh mục và giám mục.

Đức Hồng Y David trả lời đầu tiên, chọn bắt đầu với câu hỏi về sự tham gia của giáo dân và chức linh mục. Ngài nói: “Tôi muốn bắt đầu với câu hỏi thứ hai, đó là về sự tham gia hợp pháp của giáo dân, chức năng trung tâm của chức linh mục”. Ngài đặt tính đồng nghị vững chắc trong khuôn khổ truyền giáo, và nói thêm: “Tính đồng nghị được xây dựng trên khái niệm trách nhiệm chung trong truyền giáo. Trước đây, chúng ta thường nghĩ truyền giáo là công việc của các hội dòng truyền giáo. Giờ đây, khi nói về truyền giáo, chúng ta đang nói về sứ mệnh của toàn thể Giáo hội. Chúng ta không phải là Giáo hội nếu không tham gia vào việc truyền giáo.”

Ngài tiếp tục bằng cách liên kết việc truyền giáo với trách nhiệm tông đồ hơn là làm môn đệ thụ động. “Kitô giáo không chỉ là việc làm môn đệ hay việc tuân theo. Nó còn là về tính tông đồ, về sứ mệnh tông đồ, tức là tham gia vào truyền giáo,” ngài nói. Đề cập đến tông huấn Evangelii Gaudium, Đức Hồng Y David định nghĩa truyền giáo là “rao giảng niềm vui an ủi của Tin Mừng, đặc biệt là cho những người cần tin mừng nhất, những người đang vật lộn với sự tuyệt vọng, những người bị tổn thương, những người tan vỡ.”

Giải quyết trực tiếp vấn đề sự tham gia của giáo dân, Đức Hồng Y David đã chỉ ra điều được ngài mô tả như một vấn đề cấu trúc trong Giáo hội. Ngài nói: “Tôi nghĩ rõ ràng một trong những trở ngại trong Giáo hội là chủ nghĩa giáo sĩ trị”. Ngài cảnh báo rằng việc nói về trách nhiệm chung sẽ trở nên vô nghĩa nếu thái độ vẫn không thay đổi.

“Chúng ta thích nói về trách nhiệm chung trong việc truyền giáo, nhưng giáo dân sẽ khó có thể thực sự tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo hội nếu có một thái độ phổ biến cho rằng, ‘Tôi là người nắm quyền kiểm soát.’”

Ngài liên kết não trạng này với sự hiểu biết quá mức về chức thánh. “Vì chúng ta được thụ phong, chúng ta được cho là những người định hướng cho Giáo hội,” ngài nói, trước khi nói thêm: “Thông qua tính đồng nghị, chúng ta cho phép các lĩnh vực khác của Giáo hội, ngoài những người được thụ phong, cũng được lắng nghe, tiếng nói của họ được lắng nghe, giáo dân và các tu sĩ.”

Chuyển sang mối lo ngại về sự mơ hồ, Đức Hồng Y David bác bỏ ý kiến cho rằng tính đồng nghị là một điều mới lạ. Ngài nói: “Theo tôi, tính đồng nghị đã luôn tồn tại kể từ khi bắt đầu lịch sử Giáo hội. Chúng ta chỉ đang khôi phục lại vốn từ vựng mà thôi”. Ngài giải thích rằng thực chất của tính đồng nghị có thể được diễn đạt mà không cần dùng chính thuật ngữ đó: “Hãy nói về sự hiệp thông, nói về sự tham gia, nói về sứ mệnh, về trách nhiệm chung. Đó chính là tính đồng nghị.”

Về sự bất đồng trong quá trình này, ngài thẳng thắn nói: “Sự bất đồng chắc chắn sẽ xuất hiện”, nhưng cho rằng chính vì lý do này mà “chúng ta tham gia vào các cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần”. Ngài nói tiếp: “Trong khi chúng ta xác định được những điểm tương đồng, chúng ta cũng sẽ xác định được những điểm khác biệt giữa chúng ta.” Ông lập luận rằng sự khác biệt như vậy nên thúc đẩy sự tham gia sâu sắc hơn là gây lo ngại. “Khi có những điểm khác biệt, điều đó có lẽ chỉ có nghĩa là chúng ta cần nhiều cuộc đối thoại hơn.”

Ngài nhấn mạnh rằng lắng nghe là trọng tâm của quá trình này. Ngài nói: “Việc lắng nghe không chỉ là lắng nghe lẫn nhau, mà trên hết là lắng nghe Chúa Thánh Thần nói qua nhau”. Ngài lưu ý rằng sự phân định cộng đồng vẫn là một lĩnh vực đang phát triển. “Các quy tắc phân định, hay phân định cộng đồng, vẫn đang được hoàn thiện trong chính quá trình trải nghiệm tính đồng nghị.”

Đức Hồng Y Rueda Aparicio đáp lại với giọng điệu ôn hòa hơn, nhấn mạnh sự kiên nhẫn và đa dạng trong Giáo hội hoàn cầu. Ngài nói: “Tính đồng nghị và sự tham gia, sự hiệp thông, sự tham gia, sứ mệnh của những người đã được rửa tội, nam nữ, giáo dân, của phần lớn Giáo hội, những người không phải là các thừa tác viên thụ phong mà là các tín hữu giáo dân, đang ở trên đường.”

Suy gẫm về các cuộc thảo luận của công nghị, ngài nhận thấy sự tiến bộ không đồng đều. Ngài nói: “Từ những gì người ta có thể nghe được trong các bài phát biểu những ngày này, ở một số quốc gia đã có nhiều tiến bộ hơn, sự hiện diện nhiều hơn, sự trưởng thành hơn, sự sẵn có nhiều hơn của giáo dân đã đạt được. Ở những quốc gia khác thì vẫn còn thiếu sót.” Ngài cho rằng sự đa dạng này nên định hình những kỳ vọng. “Các vấn đề về sứ mệnh của Giáo hội, về việc đổi mới Tin Mừng, cần thời gian.”

Sau đó, khi Diana Montagna tiếp tục chất vấn về chủ nghĩa giáo sĩ và điều mà bà mô tả là hệ thống phẩm trật do Thiên Chúa thiết lập trong Giáo hội, Đức Hồng Y David trả lời: “Điều mà các bạn đang đề cập đến như là phẩm trật do Thiên Chúa thiết lập, không có gì phải nghi ngờ về phẩm trật trong Giáo hội.” Ngài nói thêm rằng “trong thần học về chức vụ thụ phong, chúng ta nói về chức tư tế thừa tác.”

Ngài nói tiếp rằng chức tư tế thừa tác “sẽ không có ý nghĩa nếu không đặt nó trong bối cảnh chức tư tế chung của các tín hữu, đó là một nguyên tắc thần học rất cụ thể của Công đồng Vatican II.” Mở rộng điểm này, ngài nói rằng khi Giáo hội nói về những người được thụ phong “hành động nhân danh Chúa Kitô, hay trong thân vị của Chúa Kitô, là đầu của thân thể Người, là Giáo hội,” điều này phải được hiểu một cách trọn vẹn. “Chúa Kitô không chỉ là đầu; Chúa Kitô bao gồm cả thân thể,” ngài nói thế và giải thích rằng toàn thể Giáo hội là thân thể của Chúa Kitô và tất cả những người đã được rửa tội đều là thành viên của thân thể đó. Trên cơ sở đó, ngài kết luận rằng “những người được phong chức không độc quyền trong việc hành động nhân danh Chúa Kitô,” và nói thêm rằng giáo dân cũng chia sẻ thực tại này “nhờ cùng một phẩm giá của phép rửa tội mà họ đã nhận được.”

Vấn đề liệu Giáo hội có thể mở rộng sự tham gia mà không làm suy yếu bản chất do Thiên Chúa thiết lập của hệ thống phẩm trật và đời sống bí tích của Giáo hội hay không không chỉ quan trọng vì nó đã được tranh luận trong công nghị, mà còn vì nó liên quan trực tiếp đến bản chất của chức tư tế, quyền uy và ý nghĩa của phép rửa tội, và do đó ảnh hưởng đến cách người Công Giáo hiểu về chính Thân Thể Chúa Kitô.

Những bình luận được đưa ra tại cuộc họp báo của Đức Hồng Y Pablo David trong công nghị bất thường đã làm sáng tỏ lý do tại sao những câu hỏi này đang trở nên không thể tránh khỏi. Khi trình bày tính đồng nghị như một điều được khôi phục chứ không phải được phát minh, và khi coi chủ nghĩa giáo sĩ trị như trở ngại chính đối với sứ mệnh, Đức Hồng Y đã nêu lên một quan điểm được chia sẻ rộng rãi trong số những người thúc đẩy tiến trình đồng nghị. Tuy nhiên, khi tính đồng nghị được thể hiện theo những cách dường như làm mờ đi sự phân biệt thần học giữa chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác, cuộc thảo luận chuyển từ trọng tâm mục vụ sang rủi ro về giáo lý.

Đây không phải là một vấn đề nhỏ. Giáo hội đã từng đối diện với những căng thẳng tương tự trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn sau Công đồng Vatican II, khi những lời kêu gọi đổi mới chính đáng đôi khi đi kèm với sự nhầm lẫn về quyền uy, tính bí tích và sự vâng phục.

Hơn nữa, việc sử dụng hiện đại của Thuật ngữ "chủ nghĩa giáo sĩ trị" cần được xem xét kỹ lưỡng hơn. Thường được sử dụng như một thuật ngữ bao quát, nó đã trở thành một từ lên án các thái độ mà không định nghĩa chúng. Sự phổ biến của nó trong diễn ngôn giáo hội phần lớn bắt nguồn từ các trào lưu văn hóa cuối thế kỷ XX, và nó thâm nhập vào cuộc tranh luận Công Giáo chủ yếu thông qua phê bình xã hội học thời Khai sáng hơn là định nghĩa thần học chính xác, đặc biệt là trong các tác phẩm của những nhân vật như James Carroll. Mặc dù rõ ràng là những lạm dụng quyền lực thực sự cần phải được đối diện, nhưng việc sử dụng thường xuyên thuật ngữ "chủ nghĩa giáo sĩ trị" như một từ ngữ mang tính miệt thị có nguy cơ miêu tả chính hệ thống phẩm trật là đáng ngờ.

Tính đồng nghị hiện đang được thúc đẩy thường nói về ngôn ngữ lắng nghe, trách nhiệm chung và đối thoại trong Chúa Thánh Thần. Bản thân những điều này không xa lạ với Kitô giáo. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa tham vấn và đồng quản trị, giữa lắng nghe và định nghĩa lại ai hành động nhân danh Chúa Kitô. Khi người ta cho rằng những người được phong chức không sở hữu đặc tính bí tích độc nhất vô nhị khi hành động nhân danh Chúa Kitô, điều này làm dấy lên những lo ngại ngay lập tức.

Điều đang bị đe dọa không phải là sự chống đối cải cách mà là sự rõ ràng về tính liên tục. Công đồng Vatican II không giải tán hệ thống phẩm trật thành sự tham gia, cũng không thiết lập Giáo dân chống lại giới giáo sĩ. Giáo hội không đòi hỏi một tính đồng nghị cực đoan về mặt chính trị, mà là một tính đồng nghị trung thành theo nghĩa thần học.
 
Văn kiện của Hồng Y Roche tại Công nghị Hồng Y về Thánh lễ Latinh Truyền thống được tiết lộ
Vũ Văn An
14:05 15/01/2026

Theo Niwa Limbu của tờ Catholic Herald, trong bản tin ngày 13 tháng 1, 2026 của họ, một văn kiện chỉ trích mạnh mẽ Thánh lễ Latinh của Công đồng Triđentinô, được soạn thảo dưới quyền của Đức Hồng Y Arthur Roche với tư cách là Bộ Trưởng Bộ Phụng vụ và Kỷ luật các Bí tích, đã được các nhà báo Diane Montagna và Nico Spuntoni phổ biến sau khi được gửi đến các Hồng Y trong Công nghị Ngoại thường được tổ chức tại Rome từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 1.



Bản văn này, đề ngày 8 tháng 1 năm 2026, trước đó đã được phân phối riêng với các thành viên của Hồng Y đoàn. Văn kiện này chỉ trích mạnh mẽ việc tiếp tục sử dụng Thánh lễ Latinh của Công đồng Triđentinô, đưa ra lời bào chữa mạnh mẽ cho cuộc cải cách phụng vụ hậu Vatican II và bác bỏ bất cứ sự trở lại nào với Nghi lễ Rôma trước Công đồng như một lựa chọn chuẩn mực cho Giáo hội. Việc công bố văn kiện này xác nhận báo cáo trước đó của tờ The Catholic Herald rằng một văn kiện đề cập đến Thánh lễ Latinh của Công đồng Triđentinô là một phần của công nghị.

Văn kiện này đưa ra một lập luận toàn diện về mặt thần học và lịch sử để bảo vệ cuộc cải cách phụng vụ hậu Công đồng và bác bỏ một cách rõ ràng bất cứ sự trở lại nào với hình thức trước Công đồng Vatican II của Nghi lễ Rôma như một lựa chọn chuẩn mực cho Giáo hội.

Bản văn này trình bày lập luận của mình trong ngôn ngữ của Công đồng Vatican II, khẳng định rằng cuộc cải cách phụng vụ phải dựa trên “sự suy tư thần học, lịch sử và mục vụ cẩn thận” để “truyền thống tốt đẹp có thể được giữ gìn, đồng thời con đường vẫn rộng mở cho sự tiến bộ chính đáng”. Nguyên tắc này, được rút ra trực tiếp từ hiến chế Sacrosanctum Concilium, được trình bày như là lăng kính quan trọng để hiểu toàn bộ vấn đề phụng vụ.

Văn kiện khẳng định rằng cải cách luôn là một phần của đời sống phụng vụ của Giáo hội. Nó tuyên bố: “Trong đời sống của Giáo hội, phụng vụ luôn trải qua các cuộc cải cách”. Bản văn này theo dõi sự phát triển của phụng vụ từ việc Kitô giáo sử dụng tiếng Hy Lạp cho đến tiếng Latinh, qua các sách lễ nghi thời trung cổ, các cuộc cải cách sau Công đồng Triđentinô, và cuối cùng là những thay đổi do Công đồng Vatican II quy định. Bản văn khẳng định: “Lịch sử phụng vụ là lịch sử của sự ‘cải cách’ liên tục trong một quá trình phát triển hữu cơ”.

Đề cập trực tiếp đến cuộc cải cách Triđentinô, văn kiện nhắc lại các hành động của Thánh Piô V sau Công đồng Triđentinô, nhấn mạnh rằng ý định của ngài là bảo tồn sự hiệp nhất. Trích dẫn Quo primum, văn kiện lưu ý việc Đức Giáo Hoàng đã khẳng định rằng “cũng như trong Giáo hội của Chúa chỉ có một cách đọc các thánh vịnh, thì cũng chỉ nên có một nghi thức để cử hành Thánh lễ”.

Bản văn lập luận rằng sự hiệp nhất và cải cách không thể tách rời khỏi bản chất nghi lễ của chính phụng vụ. Bản văn nói: “Nhu cầu cải cách phụng vụ gắn liền chặt chẽ với yếu tố nghi lễ”, đồng thời cho biết thêm rằng các nghi thức nhất thiết phải bao gồm các yếu tố văn hóa “thay đổi theo thời gian và địa điểm” trong khi vẫn cho phép tham gia vào mầu nhiệm Phục sinh bất biến. Trong một đoạn trích dẫn lời của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, văn kiện này bác bỏ mọi quan niệm về truyền thống như là cố định hoặc bất động. Văn kiện nêu rõ: “Truyền thống không phải là sự truyền đạt những sự vật hay lời nói, một tập hợp những thứ đã chết”, mà đúng hơn là “dòng sông sống động kết nối chúng ta với nguồn gốc, dòng sông sống động trong đó nguồn gốc luôn hiện hữu”. Trên cơ sở này, bản văn khẳng định rằng cuộc cải cách phụng vụ do Công đồng Vatican II ủy nhiệm “không chỉ hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa đích thực của Truyền thống, mà còn là một cách thức độc đáo để phục vụ Truyền thống”.

Văn kiện này nhiều lần cảnh báo chống lại việc tách rời truyền thống khỏi cải cách. Văn kiện lập luận rằng: “Duy trì truyền thống vững chắc và mở đường cho sự tiến bộ chính đáng không thể được hiểu là hai hành động tách rời”, và cho rằng nếu không có sự tiến bộ, truyền thống có nguy cơ trở nên vô hồn, trong khi sự tiến bộ mà không có truyền thống sẽ thoái hóa thành “một cuộc tìm kiếm sự mới lạ bệnh hoạn”.

Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nổi bật xuyên suốt bản văn này. Đề cập đến bài phát biểu năm 2024 của Đức Giáo Hoàng trước Bộ Phụng vụ, văn kiện này trích dẫn lời ngài rằng “nếu không có cải cách phụng vụ, thì không có cải cách Giáo hội”. Văn kiện mô tả cải cách phụng vụ như một nhiệm vụ “đổi mới về tinh thần, mục vụ, đại kết và truyền giáo”.

Bản văn cũng thừa nhận những thiếu sót trong việc tiếp nhận cuộc cải cách, nêu rõ rằng “việc áp dụng cuộc cải cách đã và đang gặp khó khăn do thiếu sự đào tạo”. Văn kiện kêu gọi đổi mới đào tạo phụng vụ, đặc biệt là tại các chủng viện, để các tín hữu có thể gặp gỡ phụng vụ như “đỉnh cao và nguồn mạch” của đời sống Kitô giáo.

Phần đề cập trực tiếp nhất đến Thánh lễ Latinh của Công đồng Triđentinô xuất hiện ở các phần sau của văn kiện. Văn kiện nêu rõ rằng việc tiếp tục sử dụng các sách phụng vụ cũ, kể từ triều đại của Thánh Gioan Phaolô II trở đi, là “một sự nhượng bộ mà không hề dự liệu đến việc thúc đẩy chúng”. Đề cập rõ ràng đến Tự sắc Traditionis custodes, bản văn này giải thích rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cho phép sử dụng hạn chế Sách lễ năm 1962 nhằm mục đích “chỉ ra con đường dẫn đến sự thống nhất trong việc sử dụng các sách phụng vụ đã được ban hành” sau Công đồng Vatican II.

Văn kiện này khẳng định rằng Sách Lễ của Đức Phaolô VI, được ban hành “phù hợp với các sắc lệnh của Công đồng Vatican II”, cấu thành “biểu hiện duy nhất của luật cầu nguyện của Nghi lễ Rôma”.

Trích dẫn trực tiếp lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, bản văn này bác bỏ ý kiến cho rằng các tranh chấp về phụng vụ là vấn đề thị hiếu hay sở thích. “Vấn đề chủ yếu là về giáo hội học”, Đức Giáo Hoàng được trích dẫn nói. “Tôi không thấy làm thế nào có thể nói rằng người ta công nhận tính hợp lệ của Công đồng… và đồng thời không chấp nhận cuộc cải cách phụng vụ được sinh ra từ Hiến chế Sacrosanctum Concilium.

Lập luận của văn kiện này không chỉ đơn thuần khẳng định lại Công đồng Vatican II; nó đưa ra một cách giải thích cụ thể về Công đồng, một cách giải thích làm sụp đổ tính liên tục thành sự tuân thủ và coi tính đa dạng trong truyền thống Rôma như một vết thương cần được chữa lành. Bản văn mở đầu bằng cách đặt mọi thứ dưới Hiến chế Sacrosanctum Concilium và liên tục trích dẫn cụm từ quan trọng của nó rằng “truyền thống tốt đẹp có thể được giữ lại, nhưng con đường vẫn phải mở ra cho sự tiến bộ hợp pháp”. Câu đó tự nó không có gì đáng phản đối. Tuy nhiên, văn kiện này lại sử dụng nó như một đòn bẩy: “duy trì truyền thống vững chắc” và “mở đường cho sự tiến bộ chính đáng” được trình bày như là không thể tách rời, đồng thời cảnh báo rằng nếu không có sự tiến bộ, truyền thống sẽ trở thành “một tập hợp những thứ đã chết”.

Khó khăn không nằm ở khẳng định rằng sự phát triển hữu cơ tồn tại, mà là ở hàm ý rằng những người ủng hộ sự kế thừa hơn là sự mới mẻ đang cầu xin sự diệt vong. Chính trích dẫn của Benedict XVI trong bản văn này mang cả hai ý nghĩa: “Truyền thống không phải là sự truyền đạt sự vật hay lời nói, một tập hợp những thứ đã chết”, mà là “dòng sông sống động kết nối chúng ta với nguồn gốc”. Một dòng sông sống động có bờ; nó không phải là một con kênh được đào mới mỗi thập niên.

Trong đoạn 1, văn kiện lập luận rằng phụng vụ “luôn trải qua các cuộc cải cách” và gọi câu chuyện về việc thờ phượng là “một quá trình ‘cải cách’ liên tục trong một quá trình phát triển hữu cơ”. Ở đây, giọng điệu đã được thiết lập. Cải cách không được mô tả như một biện pháp khắc phục nhất thời cho sự suy thoái hoặc tích lũy, mà là phương thức bình thường của đời sống phụng vụ. Đây là một sự nhấn mạnh đáng kể, bởi vì nó khiến người đọc có xu hướng nhìn nhận sự phản kháng không phải là sự thận trọng mà là sự phủ nhận lịch sử.

Đoạn 2 viện dẫn Thánh Piô V và trích dẫn thông điệp Quo primum, “chỉ nên có một nghi thức duy nhất để cử hành Thánh lễ”. Điều đó được sử dụng để ủng hộ sự thống nhất, nhưng sự trớ trêu lại rất rõ ràng. Giáo hội Rôma từ lâu đã duy trì sự thống nhất mà không bãi bỏ các nghi thức đáng kính, và bản thân Quo primum có liên quan đến việc bảo vệ Thánh lễ Triđentinô trong lịch sử. Đoạn 3 khẳng định rằng nhu cầu cải cách “gắn liền chặt chẽ với yếu tố nghi lễ” và rằng các nghi thức có các yếu tố văn hóa “thay đổi theo thời gian và địa điểm”. Vấn đề ở đây không phải là liệu văn hóa có ảnh hưởng đến nghi thức hay không, mà là liệu luận lý học nội tại của nghi thức và ngôn ngữ thánh thiêng kế thừa có thể được coi là chỉ mang tính văn hóa và do đó có thể bị loại bỏ hay không.

Đoạn 6 và 9 củng cố lập luận bằng cách trích dẫn câu nói quen thuộc của Đức Giáo Hoàng Phanxicô rằng “nếu không có cải cách phụng vụ, sẽ không có cải cách Giáo hội”, và sau đó, một cách thẳng thừng hơn, “Chúng ta không thể quay trở lại hình thức nghi lễ mà các Nghị phụ Công đồng… cảm thấy cần phải cải cách”. Đây không còn là một nhận xét lịch sử nữa; đó là một lệnh cấm được coi là nguyên tắc. Bản văn cũng thừa nhận, trong đoạn 8, rằng việc thực hiện “đã và đang bị ảnh hưởng bởi sự thiếu đào tạo”. Sự nhượng bộ đó mang tính quyết định. Nếu sự tiếp nhận cuộc cải cách đã bị ảnh hưởng bởi những thất bại trong đào tạo suốt sáu mươi năm, thì bản năng mục vụ nên là đặt câu hỏi điều gì trong chính cuộc cải cách đã tạo ra sự yếu đuối, và điều gì trong nghi thức cũ đã giữ được sự rõ ràng. Thay vào đó, bản văn nhanh chóng chuyển sang vấn đề kỷ luật.

Đoạn 10 mô tả Sách lễ năm 1962 là “một sự nhượng bộ mà không hề dự trù cho việc thúc đẩy chúng” và nhắc lại rằng các sách được cải cách là “biểu hiện duy nhất của luật cầu nguyện của Nghi lễ Rôma”. Đoạn 11 sau đó nêu rõ tranh chấp này mang tính chất giáo hội học cơ bản: “Vấn đề chủ yếu là giáo hội học.” Đây là điểm mấu chốt. Tài liệu này tìm cách biến việc gắn bó với phụng vụ cũ thành một cái cớ để bác bỏ Công đồng, sao cho một vấn đề phụng vụ trở thành một bài kiểm tra lòng trung thành. Tuy nhiên, Giáo hội chưa bao giờ yêu cầu mọi người Công Giáo phải đón nhận mọi cuộc cải cách với cùng một sự hiệu quả thiêng liêng, càng không yêu cầu sự đa dạng chính đáng phải bị coi là sự chia rẽ.

Điều quan trọng là, như Nico Spuntoni, phóng viên Vatican của tờ Il Giornale, đã lưu ý, báo cáo kết luận bằng cách trích dẫn bức tông thư gây tranh cãi Desiderio desideravi, khẳng định rằng “sẽ thật tầm thường nếu coi những căng thẳng, đáng tiếc là hiện diện xung quanh việc cử hành, chỉ đơn giản là sự khác biệt về cảm nhận đối với một hình thức nghi lễ. Vấn đề trước hết và trên hết là giáo hội học. Tôi không hiểu làm thế nào người ta có thể công nhận tính hợp lệ của Công đồng… mà lại không hoan nghênh cuộc cải cách phụng vụ được sinh ra từ hiến chế Sacrosanctum Concilium.”

Tuy nhiên, quan điểm này không được chia sẻ bởi các cộng đồng Ecclesia Dei trước đây, nhiều cộng đồng trong số đó luôn khẳng định lòng trung thành của họ với Công đồng. Điều họ tranh cãi không phải là chính Công đồng Vatican II, mà là chủ trương cho rằng các chỉ thị phụng vụ của Công đồng đã được thực hiện một cách trung thành trong những thập niên sau đó. Xét theo khía cạnh này, bản văn này mâu thuẫn với cách giải thích được đưa ra bởi một số nhà bình luận cực kỳ cấp tiến, những người cho rằng chỉ có các Hồng Y bảo thủ mới tìm cách nêu vấn đề phụng vụ trong công nghị.
 
Chính phủ Trump khôi phục nguồn tài trợ theo Chương trình Title X cho Planned Parenthood
Vũ Văn An
14:24 15/01/2026

Tòa nhà trụ sở Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ tại Washington, D.C. | Nguồn ảnh: ajay_suresh, CC BY 2.0, qua Wikimedia Commons


Kate Quiñones của hãng tin EWNTNews, ngày 14 tháng 1 năm 2026, cho biết: Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Tư đã phủ nhận việc biết các báo cáo rằng chính phủ của ông đã khôi phục hàng triệu đô la tiền thuế của người dân cho Planned Parenthood.

Theo báo cáo ngày 13 tháng 1 trên Politico, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (HHS) tháng trước đã khôi phục nguồn tài trợ theo Chương trình Title X cho Planned Parenthood. Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ (ACLU) hôm thứ Hai đã rút lại vụ kiện chống lại chính phủ liên quan đến nguồn tài trợ này.

Theo báo cáo của Politico, Planned Parenthood và một số phòng khám khác sẽ có thể nộp biên lai hoàn trả lên chính phủ đối với những bệnh nhân thu nhập thấp đã nhận được dịch vụ tránh thai và các dịch vụ khác không phải phá thai.

Mặc dù khoản tài trợ này sẽ không trực tiếp chi trả cho việc phá thai — Tu chính án Hyde ngăn cản chính phủ liên bang làm điều đó — nhưng nó sẽ trợ cấp cho một tổ chức thực hiện hàng trăm nghìn ca phá thai mỗi năm.

Khi được hỏi về báo cáo này vào thứ Tư, Trump nói với các phóng viên: “Tôi không biết gì về điều đó cả.”

“Tôi chưa nghe thấy điều đó,” Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Robert F. Kennedy Jr. nói thêm.

Vấn đề này ngay lập tức gây tranh cãi trong phong trào bảo vệ sự sống. Nhiều người ủng hộ bảo vệ sự sống đã lên tiếng phản đối động thái này, kêu gọi chính phủ cắt hoàn toàn tài trợ cho Planned Parenthood. Những người khác lại bảo vệ chính phủ Trump, nói rằng đó là lựa chọn pháp lý tốt nhất của họ.

Live Action và Susan B. Anthony Pro-Life America (SBA), hai tổ chức vận động bảo vệ pháp lý cho thai nhi, đã kêu gọi chính phủ Trump cắt hoàn toàn tài trợ cho Planned Parenthood. “Chính phủ Trump đã âm thầm khôi phục hàng triệu đô la tiền tài trợ theo Chương trình Title X cho Planned Parenthood mà họ đã giữ lại kể từ tháng 3 năm 2025,” Lila Rose, người sáng lập Live Action, cho biết trong một tuyên bố được chia sẻ với EWTN News. “Planned Parenthood giết chết 1,102 trẻ sơ sinh mỗi ngày bằng tiền thuế của người dân. Chúng ta phải cắt hoàn toàn nguồn tài trợ cho tập đoàn phá thai Planned Parenthood!”

Trong khi chính phủ Trump nhiệm kỳ đầu tiên đã ban hành “Quy tắc Bảo vệ Sự sống” ngăn chặn việc sử dụng tiền tài trợ theo Chương trình Title X cho các tổ chức phá thai, thì chính phủ nhiệm kỳ thứ hai vẫn chưa làm như vậy.

Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA) đã kêu gọi chính phủ “khôi phục ngay lập tức” quy tắc này.

“Quy tắc Bảo vệ Sự sống từ chính phủ Trump nhiệm kỳ đầu tiên đã ngăn chặn các doanh nghiệp phá thai lớn sử dụng tiền thuế của người dân theo Chương trình Title X như một quỹ đen. Biden đã hủy bỏ nó,” một tuyên bố được chia sẻ với EWTN News cho biết. “Chính phủ Trump phải khôi phục ngay lập tức.” Các thành viên của phong trào bảo vệ sự sống của đất nước dự kiến sẽ tập hợp tại cuộc tuần hành thường niên March for Life vào ngày 23 tháng 1 tại Washington, D.C. Những tiếng nói hàng đầu trong phong trào đã kêu gọi cắt giảm hoàn toàn ngân sách của Planned Parenthood và áp đặt lại các hạn chế an toàn đối với thuốc phá thai mifepristone. Mặc dù chính phủ đã ra lệnh xem xét lại loại thuốc này từ nhiều tháng trước, nhưng quá trình xem xét vẫn chưa hoàn tất. Trên thực tế, chính phủ gần đây đã phê duyệt một dạng thuốc generic của thuốc phá thai mifepristone.