Ngày 16-09-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 17/09: Cái bóng của một vị thánh - Lm Antôn Nguyễn Thế Nhân SSS
Giáo Hội Năm Châu
03:42 16/09/2026

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca

Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người, tự nghĩ rằng: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!” Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông”. Simon thưa: “Xin Thầy cứ nói”.

“Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng”.

Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít”.

Rồi Người bảo người đàn bà: “Tội con đã được tha rồi”. Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” Và Người nói với người đàn bà: “Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an.”

Ðó là lời Chúa.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Các bác sĩ Công Giáo cho rằng cần có cả linh đạo Đông phương và Tây phương để chữa lành con người toàn diện
Vũ Văn An
14:17 16/09/2026

Linh mục Andriy Chirovsky và Bác sĩ Donna C. Dobrowolsky, những người đã khai mạc hội nghị thường niên lần thứ 95 của Hiệp hội Y khoa Công Giáo tại Phoenix vào ngày 10 tháng 9 năm 2026, Ảnh: Amira Abuzeid/EWTN News


Amira Abuzeid của hãng tin EWTN News, trong bản tin ngày 15 tháng 9 năm 2026, tường trình rằng: Lần đầu tiên trong lịch sử gần 100 năm hoạt động, Hiệp hội Y khoa Công Giáo tập trung xem xét cách thức qua đó sự chú trọng vào tính mầu nhiệm của Giáo Hội Công Giáo Đông phương — khi kết hợp với sự chú trọng vào lý lẽ của Giáo hội Tây phương — có thể mang lại cái nhìn toàn diện hơn về bản sắc con người và giúp y học Tây phương thúc đẩy sự phát triển trọn vẹn con người.

Hội nghị giáo dục thường niên lần thứ 95 của hiệp hội, diễn ra tại Phoenix từ ngày 10 đến 12 tháng 9, đã nhấn mạnh vai trò của các Giáo phụ thời sơ khai — những vị có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tại phương Đông — nhằm mục đích “thúc đẩy một cái nhìn toàn diện hơn và sự tôn trọng sâu sắc hơn đối với những mầu nhiệm về sức khỏe và bệnh tật của con người,” theo lời Chủ tịch hội nghị, Bác sĩ Mary Keen-Kirchoff.

“Chúng ta là những linh hồn mang thân xác, chứ không chỉ đơn thuần là thể xác vật lý,” bà phát biểu trong phần khai mạc. Bà nói thêm rằng sự chữa lành “chính là sự trở về với trạng thái nguyên thủy khi con người được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa.”

Chủ đề của hội nghị là “Những Mầu nhiệm và Phép lạ: Khôi phục Thực hành Y khoa để Chữa lành Con người Toàn diện.” Mở đầu cho bầu không khí của hội nghị, Cha Andriy Chirovsky – một nhà thần học kiêm linh mục thuộc Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine (một Giáo Hội Công Giáo Đông phương hiệp thông trọn vẹn với Rome) – cùng bác sĩ tâm thần Donna C. Dobrowolsky đã cùng chia sẻ trong phiên họp toàn thể đầu tiên.

Họ đã đan xen giữa thần học và thực hành lâm sàng, bày tỏ hy vọng giúp các chuyên gia y tế khôi phục cái nhìn toàn diện về "con người trọn vẹn, bởi đó chính là đối tượng mà tất cả chúng ta đều quan tâm." Họ cho rằng thần học nếu tách rời thực tế lâm sàng sẽ trở nên trừu tượng, trong khi công việc lâm sàng nếu thiếu đi nhân học Kitô giáo trọn vẹn sẽ trở nên manh mún.

"Nếu con người bị hiểu sai, thì sự chữa lành cũng sẽ bị hiểu sai và do đó kém hiệu quả," Cha Chirovsky nói. "Sự chữa lành đòi hỏi một nền tảng nhân học đúng đắn."

Ngài trích dẫn thông điệp Magnifica Humanitas của Giáo hoàng Leo XIV, trong đó ngài viết: "Chúng ta, những Kitô hữu, hướng mắt về Thiên Chúa Nhập Thể, với ý thức rằng 'chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể thì mầu nhiệm về con người mới thực sự trở nên sáng tỏ'."

Tại sao lại là phương Đông, và tại sao lại vào lúc này?

Cha Chirovsky dẫn lại thông điệp Ut Unum Sint (Để họ nên một) năm 1995 của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II; khi đề cập đến các Giáo Hội Công Giáo Đông phương và Tây phương, ngài đã viết rằng "Giáo hội phải thở bằng hai lá phổi!"

Bác sĩ Dobrowolsky lưu ý rằng những gì phương Tây gọi là "bí tích" (sacraments) thì phương Đông gọi là "mầu nhiệm" (mysteries): đó là những nghi thức "không thể hiểu thấu hoàn toàn bằng lý trí con người, mà được Thiên Chúa mặc khải."

Cha Chirovsky cho biết linh đạo và thực hành của phương Đông "gìn giữ những nếp tư duy đặc biệt cần thiết trong thời điểm lịch sử này."

Ngài khẳng định mình không hề có ý chống lại phương Tây. Bất cứ thế mạnh nào cũng có thể bị biến tướng khi mất đi yếu tố bổ trợ cho nó. Phương Đông mang đến "liều thuốc cần thiết cho một số căn bệnh của văn hóa hiện đại," đặc biệt là quan niệm coi con người là trung tâm vũ trụ, là người "tự định nghĩa bản thân" và là "cội nguồn của chân lý."

"Chúng ta cần đến sự mặc khải để thấu hiểu chính bản thân mình," ngài nói.

"Nếu con người không thể tự giải thích về chính mình," bác sĩ Dobrowolsky nói, "thì ngành y cần phải thận trọng; bởi lẽ các chỉ số xét nghiệm và các nhóm triệu chứng không đủ để lý giải về một con người. Chúng rất quan trọng, nhưng không cho chúng ta biết tất cả mọi điều về bản chất của con người." Vị linh mục cho biết Giáo Hội Công Giáo cần cả phương Đông lẫn phương Tây, cũng giống như một người khỏe mạnh cần tư duy bằng cả hai bán cầu não; ông dẫn lại ý tưởng từ cuốn sách The Master and His Emissary: The Divided Brain and the Making of the Western World (tạm dịch: Người chủ và Sứ giả: Bộ não phân mảnh và sự hình thành thế giới phương Tây) của nhà khoa học thần kinh Iain McGilchrist.

Trong cuốn sách của ông, McGilchrist chỉ ra rằng bán cầu não trái thiên về phân tích và có cái nhìn hạn hẹp, trong khi bán cầu não phải tập trung nhiều hơn vào bức tranh toàn cảnh; bệnh lý sẽ nảy sinh khi hai bên không phối hợp với nhau mà một bên lại lấn át bên kia.

Chirovsky ví việc y học hiện đại quá chú trọng vào khía cạnh phân tích và định lượng—lấy ví dụ là sự chuyên môn hóa cực độ trong ngành y—như một dạng bệnh lý do quá phụ thuộc vào bán cầu não trái.

"Phương thức tư duy phân tích rất mạnh mẽ, nhưng khi nó lấn át mà không có sự kiểm soát, con người sẽ chỉ còn được nhìn nhận như những dữ liệu, thay vì là một mầu nhiệm hay một con người trọn vẹn," ngài nói.

"Bất cứ phương thức thực hành y khoa nào đánh mất cái nhìn về con người toàn diện..."...nơi Con Thiên Chúa nhập thể sẽ gặp nhiều rắc rối,” ngài nói thêm. “Y học hiện đại đang làm chính điều đó.”

Bà Dobrowolsky đồng tình và nói thêm rằng: “Trong y học, sự mất cân bằng đó không chỉ là lý thuyết; chúng ta chứng kiến điều đó mỗi ngày.”

Bà cho biết, việc nhìn nhận con người như một mầu nhiệm không có nghĩa là con người không thể hiểu được. “Chúng tôi muốn nói rằng bản chất con người không thể bị gói gọn trong những cách lý giải mang tính giản lược. Và sự thật sâu sắc nhất về con người được bộc lộ trong mối tương quan với Đức Kitô.”

“Nếu một con người bị giản lược thành một tập hợp các chức năng, các nguy cơ và những chỉ số có thể đo lường được, thì việc chăm sóc họ cũng bị giản lược theo,” bà nói tiếp. Bà nhận định rằng dù các chuyên gia y tế có thể “vẫn giữ được sự xuất sắc về mặt kỹ thuật... nhưng bệnh nhân có thể dần trở nên mờ nhạt và bị che khuất bởi chính kỹ thuật đó.”

Quả thực, các phiên thảo luận chuyên đề của hội nghị đã đề cập đến sự cần thiết của một nền nhân học Kitô giáo được soi sáng bởi một Giáo hội “thở bằng cả hai lá phổi”. Các bài tham luận có những tiêu đề như: “Chữa lành không đồng nghĩa với trị khỏi bệnh: Nhân học của các Giáo phụ và những giới hạn của y học hiện đại”; “Linh hồn bị lãng quên: Những giáo huấn cổ xưa của các đan sĩ về chứng trầm cảm trong thế giới hiện đại”; và “Chất gây ảo giác, Trí tuệ nhân tạo (AI), Tâm linh và nhiều hơn nữa: Trí tuệ cổ xưa để khơi dậy lại ý nghĩa thiêng liêng cho y học.”

“Lời cầu nguyện của tôi trước khi hội nghị diễn ra là mong sao tất cả những người tham dự đều nhận được dồi dào ân sủng của sự thấu hiểu và niềm hy vọng vào tương lai,” bà Keen-Kirchoff chia sẻ với EWTN News. “Tôi vô cùng biết ơn vì sự hiện diện mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần... và tin tưởng rằng những người tham dự sẽ thấu hiểu sâu sắc hơn về bản sắc của chúng ta trong Đức Kitô cũng như con người mà chúng ta sẽ trở nên trong Người.”
 
Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Leo XIV: Cộng đồng Con người
Vũ Văn An
14:40 16/09/2026

Vatican Media


Theo tin Tòa Thánh, trong buổi tiếp kiến chung ngày 16 tháng 9, Đức Giáo Hoàng tiếp tục những suy tư về Gaudium et Spes – văn kiện của Công đồng Vatican II bàn về Giáo hội và thế giới hiện đại.

Chương hai của văn kiện này nói về "cộng đồng nhân bản", và theo Đức Giáo Hoàng, chủ đề này mang tính "cấp thiết hơn bao giờ hết" trong thời đại ngày nay.

Đức Giáo Hoàng nhận định rằng, trong khi công nghệ đang "mở ra những khả năng mới, phá bỏ các rào cản và thu hẹp khoảng cách", thì các mối quan hệ giữa người với người lại "có xu hướng ngày càng ít mang tính bản vị hơn và trở nên ảo hơn".

Ngài đã liệt kê bốn hệ quả của việc thuộc về "gia đình nhân loại" mà Công đồng đã nêu ra.

Dưới đây là nguyên văn bài giáo lý của ngài, dựa vào bản tiếng Anh của Tòa Thánh:

Giáo lý. Các văn kiện của Công đồng Vatican II. IV. Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (GS, 23-32). 3. Cộng đồng nhân bản

~

Anh chị em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng anh chị em!

Khi dành chương hai để nói về "cộng đồng nhân bản", Hiến chế Gaudium et Spes (GS) mời gọi chúng ta xem xét "sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng giữa con người" như là "một trong những đặc điểm nổi bật của thế giới hiện đại" (số 23). Tuy nhiên, thực tế này cần phải được hoàn thiện "ở mức độ sâu sắc hơn... đó là sự hiệp thông giữa các con người", điều đòi hỏi phải có "sự tôn trọng lẫn nhau đối với phẩm giá thiêng liêng trọn vẹn của mỗi con người" (sđd).

Đây là những nhận định mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết trong thời đại chúng ta. Một mặt, sự phát triển kỹ thuật, sự lan tỏa của các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội, cùng việc ngày càng sử dụng nhiều trí tuệ nhân tạo đang mở ra những khả thể mới, phá bỏ các rào cản và thu hẹp khoảng cách; mặt khác, các mối quan hệ lại có xu hướng ngày càng ít mang tính bản vị và trở nên ảo hơn, đồng thời nảy sinh nguy cơ chúng ta dần quen với việc phó mặc cho các thuật toán những quyết định vốn thuộc về phạm vi riêng biệt của lương tâm con người. Về phương diện này, việc đảm bảo cho các mối tương quan xã hội có nội dung đích thực và chiều sâu cá vị chính là đóng góp mà cộng đồng Kitô hữu mong muốn mang lại.

Công đồng mời gọi chúng ta tìm kiếm các tiêu chuẩn và sức mạnh từ kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa; trong kế hoạch ấy, Người muốn rằng “mọi người phải hợp thành một gia đình và đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ”. Chính vì thế, “lòng mến Chúa và yêu người là điều răn thứ nhất và trọng đại nhất”, điều răn đã được mặc khải trọn vẹn và thực hiện viên mãn nơi Đức Kitô (x. GS, 24).

Sự hoàn thiện của con người và sự phát triển của xã hội phải được xem là gắn bó mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau: việc đặt chúng đối lập hoặc tách rời nhau sẽ khiến chúng trở nên vô nghĩa. Lịch sử, kể cả lịch sử gần đây, đã khẳng định rõ ràng sự thật này; do đó, chúng ta không bao giờ được mệt mỏi khi nhắc lại lời của các Nghị phụ Công đồng Vatican II rằng: “chủ thể và mục đích của mọi định chế xã hội chính là con người – một hữu thể, xét về bản chất, hoàn toàn cần đến đời sống xã hội” (GS, 25).

Từ góc độ này, Hiến chế Gaudium et Spes khẳng định rằng sự đa dạng về con người và các dân tộc trên thế giới không được coi là mối nguy hại hay sự đe dọa, mà trái lại, là nguồn lực để làm phong phú và phát triển lẫn nhau. Xung đột – điều đôi khi leo thang thành bạo lực – là hệ quả của sức mạnh tội lỗi và cách tội lỗi chi phối tư duy cũng như hành động ở mọi bình diện, gây ra sự hủy diệt và cái chết. Chúng ta cần cởi mở hơn nữa với luận lý học hỗ tương, chia sẻ và quan tâm chăm sóc, tựa như mối tương quan giữa các chi thể trong cùng một thân thể con người (x. 1 Cr 12,21–25).

Về điểm này, Hiến chế Mục vụ cũng đưa ra định nghĩa súc tích về “ích chung”, nhắc nhở rằng đó là “tổng thể các điều kiện của đời sống xã hội, cho phép các nhóm xã hội và các thành viên của họ có cơ hội tiếp cận tương đối đầy đủ và thuận lợi để đạt được sự hoàn thiện của chính mình” (GS, 26). Đồng thời, khi nhìn nhận sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, văn kiện khẳng định rằng “mỗi nhóm xã hội phải quan tâm đến nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các nhóm khác, cũng như lợi ích chung của toàn thể gia đình nhân loại” (GS, 26).

Từ tiền đề này, các Nghị phụ Công đồng đã đề ra một số “hệ quả thực tiễn và đặc biệt cấp bách” (GS, 27). Trước hết và trên hết là sự tôn trọng đối với con người. Hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng) khẳng định: “Bất cứ điều gì đi ngược lại chính sự sống, chẳng hạn như mọi hình thức giết người, diệt chủng, phá thai, an tử hay cố ý tự sát; bất cứ điều gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của con người, như hành vi cắt xẻo thân thể, tra tấn thể xác hay tinh thần, và những nỗ lực cưỡng ép ý chí; bất cứ điều gì xúc phạm đến phẩm giá con người, như điều kiện sống thấp kém, giam cầm tùy tiện, trục xuất, chế độ nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; cũng như các điều kiện làm việc tồi tệ, nơi con người bị đối xử như những công cụ kiếm lời thay vì là những cá nhân tự do và có trách nhiệm; tất cả những điều này và những hành vi tương tự......thực sự là những điều ô nhục” (sđd).

Hệ quả thứ hai: sự tôn trọng và yêu thương dành cho các đối thủ hoặc những người có suy nghĩ và hành động khác biệt với chúng ta (x. GS, 28).

Thứ ba: sự bình đẳng căn bản của mọi con người, điều đòi hỏi phải có công bằng xã hội. Văn kiện khẳng định: “Mọi hình thức phân biệt đối xử, dù là về mặt xã hội hay văn hóa, dù dựa trên giới tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, đều phải được khắc phục và loại bỏ vì đi ngược lại ý định của Thiên Chúa” (GS, 29).

Cuối cùng, các Nghị phụ Công đồng kêu gọi chúng ta vượt qua tư duy cá nhân chủ nghĩa để có thái độ sống đầy trách nhiệm và tinh thần dấn thân tham gia (x. GS, 30-31).

Anh chị em thân mến, tầm nhìn về nhân loại như một “cộng đồng người” là di sản quý báu mà Công đồng Vatican II đã để lại cho chúng ta. Tầm nhìn ấy giúp tất cả chúng ta thực hiện việc phân định bản thân và cộng đồng, để có thể đánh giá một cách đầy trách nhiệm các dự án xã hội và chính trị hiện nay, dựa trên các tiêu chuẩn về phẩm giá con người, công bằng xã hội và sự tham gia tự do vào việc xây dựng lợi ích chung. Bởi lẽ, tương lai của nhân loại tùy thuộc vào sự dấn thân của mỗi người trong việc cộng tác với Thiên Chúa và với anh chị em mình để xây dựng một thế giới nhân văn hơn (x. GS, 30).
 
Pháp và Tòa Thánh: Hai thế kỷ đầy những sự tương phản
Vũ Văn An
15:21 16/09/2026


Kể từ cuộc Cách mạng Pháp, mối quan hệ giữa Pháp và Tòa Thánh đã trải qua những giai đoạn rạn nứt cũng như hòa giải trong lịch sử.



Cyprien Viet, trong mục Vatican Insight của I.Media, ngày 16 tháng 9, 2026, nhận định rằng: Mặc dù quan hệ giữa Pháp và Tòa Thánh đã tương đối ổn định trong hơn một thế kỷ qua, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Kể từ cuộc Cách mạng Pháp, mối quan hệ này đã trải qua những giai đoạn đầy biến động, chịu ảnh hưởng sâu xa bởi chính cuộc Cách mạng và sau đó là sự kiện tách biệt Giáo hội khỏi Nhà nước. Dưới đây là cái nhìn tổng quan về mối quan hệ này kể từ thời Cách mạng, giúp cung cấp bối cảnh lịch sử cho chuyến thăm sắp tới của Giáo hoàng tới Pháp.

Cách mạng Pháp và sự rạn nứt với Rome

Cách mạng Pháp là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nước Pháp, đồng thời là một điểm mốc bi kịch trong quan hệ giữa Pháp và Tòa Thánh. Việc quốc hữu hóa tài sản của Giáo hội vào năm 1789, và sau đó là Hiến pháp Dân sự về Hàng Giáo sĩ năm 1790, đã đặt Giáo hội Pháp dưới sự kiểm soát của nhà nước cách mạng, tạo nên thế đối đầu với Rome.

Quan hệ ngoại giao bị gián đoạn vào năm 1791. Tuy nhiên, Hồng Y François de Bernis – đại sứ cuối cùng do chế độ cũ (Ancien Régime) cử đến Rome – đã từ chối tuân theo lệnh triệu hồi về nước của Quốc hội. Ngài tiếp tục đóng vai trò ngoại giao quan trọng và ở lại Rome cho đến khi qua đời ba năm sau đó.

Xung đột trở nên trầm trọng hơn trong những năm tiếp theo, cao điểm là việc quân Pháp chiếm đóng Rome và cái chết của Đức Giáo Hoàng Piô VI tại Valence (Pháp) vào năm 1799, khi ngài 81 tuổi. Ngài qua đời trong cảnh lưu vong cưỡng bức với những hoàn cảnh đầy tủi nhục; một số nhà sử học coi ngài là vị tử đạo của cuộc Cách mạng Pháp.

Tông Hiệp (Concordat) năm 1801

Tuy nhiên, việc Đức Giáo Hoàng Piô VII đắc cử vào tháng 3 năm 1800 cùng sự trỗi dậy của Napoléon Bonaparte đã mở ra một giai đoạn mới. Với mong muốn ổn định nước Pháp sau một thập niên đầy biến động, Đệ nhất Tổng tài đã đàm phán Tông Hiệp với Rome; văn bản này được ký kết vào ngày 15 tháng 7 năm 1801. Tông Hiệp đã tái tổ chức Giáo Hội Công Giáo tại Pháp và dẫn đến việc khôi phục quan hệ ngoại giao.

Dẫu vậy, sự thỏa hiệp này vẫn rất mong manh. Năm 1802, Bonaparte đơn phương áp đặt các "Điều khoản Hữu cơ" (Organic Articles), qua đó tăng cường sự kiểm soát của nhà nước đối với Giáo hội.

Từ cuộc khủng hoảng thời Napoléon đến thời kỳ Khôi phục

Sự hòa giải đạt được nhờ Tông Hiệp đã bị phá vỡ bởi tham vọng đế quốc của Napoléon. Sau lễ đăng quang năm 1804 – biến cố mà Giáo hoàng Piô VII đã đích thân tham dự tại Paris – quan hệ giữa hai bên nhanh chóng xấu đi. Quân đội Pháp chiếm đóng Rome vào tháng 2 năm 1808, và Lãnh địa Giáo hoàng bị sáp nhập vào Đế chế Pháp năm 1809.

Đức Giáo Hoàng Piô VII đã ra lệnh rút phép thông công đối với Napoléon vào ngày 10 tháng 6 năm 1809, trước khi bị bắt giữ và giam cầm tại Savona (Ý), rồi sau đó bị cưỡng chế chuyển đến Fontainebleau (Pháp) vào năm 1812. Đức Giáo Hoàng kiên quyết không nhượng bộ trước các yêu sách của đế chế. Sau khi Napoléon sụp đổ, ngài đã trở về Rome trong sự chào đón nồng nhiệt vào tháng 5 năm 1814, và Tòa Thánh đã khôi phục quan hệ bình thường với Pháp.

Dưới thời kỳ Khôi phục chế độ quân chủ, với các triều đại của Louis XVIII và đặc biệt là Charles X, Paris và Rome đã trải qua giai đoạn xích lại gần nhau. Chế độ quân chủ Pháp nỗ lực khôi phục vị thế vốn có của Công Giáo trong xã hội. Trong giai đoạn này, nhiều đại sứ lỗi lạc—bao gồm François-René de Chateaubriand (nhiệm kỳ 1828–1829)—đã đại diện cho Pháp tại Tòa Thánh.

Cuộc Cách mạng tháng Bảy năm 1830 và sự ra đời của chế độ Quân chủ tháng Bảy với khuynh hướng tự do hơn đã đánh dấu một giai đoạn quan hệ trở nên xa cách hơn, nhưng không dẫn đến việc cắt đứt quan hệ ngoại giao.

Từ năm 1848 đến 1870: Pháp trong vai trò người bảo vệ Giáo hoàng

Việc Đức Giáo Hoàng Piô IX đắc cử năm 1846 đã mở ra một giai đoạn đầy biến động. Cuộc cách mạng năm 1848 đã gây xáo trộn cả nước Pháp lẫn Lãnh địa Giáo hoàng. Đức Giáo Hoàng Piô IX buộc phải rời bỏ Rome vào tháng 11 năm 1848. Dưới thời Tổng thống Louis-Napoleon Bonaparte, nền Đệ nhị Cộng hòa đã can thiệp quân sự để đưa Giáo hoàng trở lại Rome.

Sau khi Louis-Napoleon lên ngôi hoàng đế vào năm 1852 với tước hiệu Napoléon III, ông tiếp tục duy trì chính sách này và giữ quân đội Pháp tại Rome để bảo vệ Giáo hoàng. Quan hệ giữa Paris và Tòa Thánh rất khăng khít trong thời gian này. Tuy nhiên, chính sách bảo vệ Giáo hoàng của Pháp ngày càng khó dung hòa với tiến trình thống nhất nước Ý cũng như sự trỗi dậy của các trào lưu tự do và cộng hòa tại Pháp. Việc Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố văn kiện “Syllabus of Errors” (Bản liệt kê các sai lầm) vào năm 1864 – văn kiện lên án một số khuynh hướng của chủ nghĩa tự do hiện đại – đã làm gia tăng căng thẳng về mặt tư tưởng.

Cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 đã dẫn đến việc quân đội Pháp rút khỏi Rome. Vào ngày 20 tháng 9 năm đó, quân đội Ý tiến vào thành phố và chấm dứt quyền lực thế tục của Giáo hoàng. Mối quan hệ giữa Pháp và Tòa Thánh sau đó đã thay đổi về bản chất. "Vấn đề Rome" (tranh chấp xoay quanh quyền lực thế tục của Giáo hoàng) về cơ bản đã chuyển thành vấn đề về nền độc lập và vị thế quốc tế của Tòa Thánh trong mối tương quan với Vương quốc Ý mới thành lập.

Từ năm 1870 đến 1904: Nền Cộng hòa Pháp và sự trỗi dậy của tư tưởng chống giáo sĩ

Nền Cộng hòa thứ Ba – một định chế nghị viện – được thành lập trong bối cảnh tồn tại sự ngờ vực sâu xa đối với Giáo Hội Công Giáo; một số người theo phe cộng hòa coi Giáo hội là phe ủng hộ chế độ quân chủ và thù địch với các định chế mới. Bạo lực trong sự kiện Công xã Paris năm 1871—khi Tổng giám mục Paris Georges Darboy bị hành quyết—đã làm gia tăng thêm những căng thẳng này.

Vào thập niên 1880, các đạo luật của nền Cộng hòa về giáo dục và các dòng tu—chẳng hạn như những biện pháp nhắm vào Dòng Tên năm 1880—đã dần làm suy giảm ảnh hưởng về mặt định chế của Giáo hội. Tuy nhiên, Tòa Thánh vẫn duy trì đại diện ngoại giao tại Paris, và Pháp cũng giữ lại đại sứ quán của mình ở Rome.

Dưới thời Giáo hoàng Leo XIII, một nỗ lực hòa giải đã bắt đầu vào năm 1890. Trong thông điệp “Au milieu des sollicitudes” (Giữa những nỗi lo âu) năm 1892, Đức Giáo Hoàng khuyến khích người Công Giáo Pháp chấp nhận nền Cộng hòa và tham gia vào các định chế của nó. Là một phần của chiến lược gắn kết này, Đức Giáo Hoàng Leo XIII cũng đã thực hiện hai cuộc phỏng vấn được đăng tải trên báo chí thế tục.

Tuy nhiên, chiến lược cởi mở và việc Đức Giáo Hoàng sẵn sàng tiếp xúc với truyền thông theo cách đặc biệt như vậy vẫn không đủ để ngăn chặn sự rạn nứt mới trong quan hệ hai bên. Đạo luật năm 1901 về các hội đoàn cùng các chính sách ngày càng siết chặt kiểm soát đối với các dòng tu đã làm trầm trọng thêm những căng thẳng.

Sau khi Đức Giáo Hoàng Pius X đắc cử năm 1903, cuộc khủng hoảng ngoại giao đã lên đến tuyệt đỉnh. Pháp cắt đứt quan hệ với Tòa Thánh vào ngày 29 tháng 7 năm 1904.

Từ năm 1904 đến 1921: Cắt đứt quan hệ ngoại giao và sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước

Sự kiện cắt đứt quan hệ năm 1904 diễn ra ngay trước khi đạo luật về việc tách biệt Giáo hội và Nhà nước được ban hành vào ngày 9 tháng 12 năm 1905. Đạo luật này đã chấm dứt hiệu lực của Tông Hiệp năm 1801 trên phần lớn lãnh thổ Pháp và thiết lập nguyên tắc trung lập về tôn giáo của nhà nước. Đức Giáo Hoàng Pius X đã kiên quyết lên án đạo luật này trong thông điệp Vehementer nos năm 1906.

Dù vậy, trong Thế chiến thứ nhất, người Công Giáo Pháp đã tham gia tích cực vào "Liên minh Thánh thiêng " (Sacred Union)—một thỏa thuận đình chiến chính trị quy tụ mọi người từ khắp các khuynh hướng chính trị để ủng hộ nỗ lực chiến tranh. Điều này đã góp phần dần xóa bỏ sự ngờ vực giữa nền Cộng hòa và Giáo hội.

Việc phong thánh cho Jeanne d'Arc vào năm 1920 là một cột mốc mang tính biểu tượng khác. Một phái đoàn đại diện chính quyền Pháp đã đến Vatican để tham dự buổi lễ này. Vào ngày 28 tháng 5 năm 1921, Pháp chính thức tái thiết lập đại sứ quán tại Tòa Thánh. Quá trình bình thường hóa tiếp tục diễn ra dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô XI với các thỏa thuận Briand-Cerretti năm 1923. Năm 1926, Đức Giáo Hoàng Piô XI lên án tổ chức cánh hữu và ủng hộ chế độ quân chủ Action Française (Phong trào Hành động Pháp), qua đó thể hiện mong muốn của Tòa Thánh trong việc chấm dứt sự gắn kết với các trào lưu ủng hộ chế độ quân chủ tại Pháp.

Giai đoạn 1921–1945: Bình thường hóa quan hệ ngoại giao

Việc nối lại quan hệ vào năm 1921 đã mở ra một thời kỳ bình thường hóa lâu dài. Việc giải quyết "Vấn đề La Mã" thông qua Hiệp ước Lateran năm 1929 – văn bản thành lập Quốc gia Thành phố Vatican – đã củng cố vị thế quốc tế cũng như năng lực hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh.

Sau đó, Pháp duy trì quan hệ thường xuyên với Tòa Thánh. Điều này được thể hiện qua chuyến thăm Vatican năm 1935 của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Pierre Laval, cũng như các chuyến thăm của Hồng Y Eugenio Pacelli – Quốc vụ khanh của Đức Giáo Hoàng Piô XI – tới Lourdes (năm 1935) và sau đó là Paris cùng Lisieux (năm 1937).

Chiến tranh thế giới thứ hai và sự tái tổ chức thời hậu chiến

Hồng Y Pacelli trở thành Đức Giáo Hoàng Piô XII vào năm 1939, ngay trước thềm Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau thất bại của Pháp năm 1940, Tòa Thánh vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với chính quyền Vichy (chế độ độc tài hợp tác với Đức Quốc xã do Thống chế Philippe Pétain đứng đầu). Tuy nhiên, Hồng Y Eugène Tisserant – một cộng sự thân cận của Đức Giáo Hoàng Piô XII và là người công khai ủng hộ Tướng Charles de Gaulle, thủ lĩnh phong trào Kháng chiến Pháp – đã góp phần duy trì liên lạc với lực lượng Nước Pháp Tự do. Đây là một trong những giai đoạn nhạy cảm nhất trong lịch sử quan hệ gần đây giữa Paris và Rome.

Sau khi Pháp được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Đức Quốc xã, các cơ chế ngoại giao đã được tái tổ chức. Tướng de Gaulle đã đến thăm Vatican vào tháng 6 năm 1944. Ông giữ lập trường cứng rắn trong cuộc đối thoại với Đức Giáo Hoàng Piô XII, yêu cầu thay đổi nhân sự trong hàng ngũ giám mục Pháp, vì cho rằng một số thành viên trong đó đã có mối quan hệ quá gần gũi với chế độ Pétain.

Dù chỉ một số ít giám mục Pháp bị cách chức, nhưng Sứ thần Tòa Thánh – Tổng giám mục Valerio Valeri – đã bị triệu hồi. Tổng giám mục Angelo Roncalli – người sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII – đã được bổ nhiệm làm Sứ thần Tòa Thánh tại Paris. Năm 1945, Jacques Maritain, một triết gia Công Giáo và là người ủng hộ nền dân chủ Ki-tô giáo, đã trở thành đại sứ Pháp tại Tòa Thánh. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển sang một giai đoạn mới trong mối quan hệ giữa hai bên.

Sau năm 1945: Từ vấn đề tôn giáo đến quan hệ đối tác ngoại giao

Sau Thế chiến thứ hai, mối quan hệ Pháp - Vatican đã ổn định trong một khuôn chế mới. Pháp vẫn duy trì định chế Cộng hòa thế tục, và Tòa Thánh không còn tìm cách thách thức nguyên tắc này. Đồng thời, hai bên duy trì các cuộc đối thoại thường xuyên về những vấn đề tôn giáo, xã hội và quốc tế. Dù đôi khi vẫn tồn tại căng thẳng liên quan đến giáo dục, vai trò của Công Giáo trong xã hội hay một số vấn đề xã hội như phá thai và an tử, nhưng mối quan hệ giữa hai bên không còn bị đổ vỡ.

Dưới sự dẫn dắt của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Dưới thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI – người có mối liên hệ mật thiết với Pháp – Công đồng Vatican II đã khai mạc vào năm 1962. Sự kiện này góp phần thay đổi cách Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận mối quan hệ với các quốc gia hiện đại, đặc biệt là về vấn đề tự do tôn giáo. Các chuyến thăm Vatican của Tướng de Gaulle vào năm 1959 và 1967 là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ ngày càng khăng khít giữa Tòa Thánh và nền Đệ ngũ Cộng hòa Pháp.

Một khía cạnh mới dưới thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Mối quan hệ này càng trở nên bền chặt hơn dưới thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Vị Giáo hoàng người Ba Lan đã thực hiện nhiều chuyến thăm Pháp trong giai đoạn từ năm 1980 đến 2004, với điểm nhấn là sự kiện Ngày Giới trẻ Thế giới được tổ chức tại Paris vào năm 1997.

Tuy nhiên, những năm cuối triều đại của ngài cũng chứng kiến một mối quan hệ đầy nghịch lý với nước Pháp. Một mặt, có sự đồng thuận với Tổng thống Jacques Chirac trong việc phản đối cuộc chiến tranh tại Iraq. Mặt khác, Đức Giáo Hoàng lại bày tỏ sự tiếc nuối khi Tổng thống Pháp từ chối ủng hộ việc đưa nội dung đề cập đến cội nguồn Kitô giáo của châu Âu vào dự thảo Hiến pháp châu Âu. Được biết, một cuộc tranh luận rất gay gắt về vấn đề này đã diễn ra giữa Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Dominique de Villepin và người đồng cấp tại Tòa Thánh, Tổng giám mục Jean-Louis Tauran.

Mối quan hệ gần gũi hơn kể từ nhiệm kỳ tổng thống của Nicolas Sarkozy

Dưới thời Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, bài phát biểu của Nicolas Sarkozy tại Đền thờ Thánh Gioan Latêranô năm 2007 và chuyến thăm Pháp của Đức Giáo Hoàng vào năm 2008 đã khơi dậy lại khái niệm "chủ nghĩa thế tục tích cực". Điều này đã châm ngòi cho những cuộc tranh luận rộng rãi về vai trò của tôn giáo trong không gian công cộng.

Nhiệm kỳ của Tổng thống François Hollande khởi đầu bằng một khoảng cách khá lớn với Giáo hoàng, đặc biệt là trong bối cảnh các cuộc tranh luận về hôn nhân đồng tính. Tuy nhiên, nhiệm kỳ này lại kết thúc bằng sự xích lại gần nhau giữa hai bên trước hàng loạt vụ tấn công khủng bố, và đặc biệt là vụ sát hại Linh mục Jacques Hamel vào ngày 26 tháng 7 năm 2016.

Dưới thời Tổng thống Emmanuel Macron (đắc cử năm 2017), các cuộc đối thoại ngày càng tập trung vào những vấn đề quốc tế và xã hội. Các chủ đề này bao gồm vấn đề di cư, khu vực Địa Trung Hải, đối thoại liên tôn giáo, biến đổi khí hậu, hòa bình và châu Âu. Dẫu vậy, những bất đồng về các vấn đề xã hội vẫn tiếp diễn.

Các cuộc gặp gỡ thường xuyên giữa Emmanuel Macron và Đức Giáo Hoàng Phanxicô phản ánh tiến trình đối thoại liên tục này. Chuyến thăm Marseille của Đức Giáo Hoàng Phanxicô vào tháng 9 năm 2023 đã dành trọng tâm cho các vấn đề liên quan đến khu vực Địa Trung Hải và tình trạng di cư. Chuyến thăm Ajaccio năm 2024 của ngài tập trung vào các hoạt động sùng kính của giáo dân. Dù không được xem là những chuyến thăm chính thức tới nước Pháp, các sự kiện này lại cho thấy sự thay đổi trong bản chất mối quan hệ giữa vị Giáo hoàng và nước Pháp.

Hai thế kỷ sau Tông Hiệp, quan hệ Pháp-Vatican không còn chủ yếu xoay quanh vị thế của Giáo hội tại Pháp. Thay vào đó, mối quan hệ này tập trung vào đối thoại ngoại giao giữa hai chủ thể quốc tế, được thực hiện trên tinh thần tôn trọng định chế thế tục của Cộng hòa Pháp.

Chuyến thăm Pháp sắp tới của Giáo hoàng Leo XIV

Chuyến thăm Paris, Lourdes và Metz của Đức Giáo Hoàng Leo XIV từ ngày 25 đến 28 tháng 9 sẽ là dấu mốc quan trọng của tiến trình đối thoại này, xét cả trên bình diện chính trị nội bộ nước Pháp lẫn địa chính trị quốc tế. Đây là chuyến thăm Pháp lần thứ 13 của một vị Giáo hoàng kể từ năm 1980, đánh dấu một chương mới trong mối quan hệ giữa nền Cộng hòa thế tục và Tòa thánh.
 
Khi nào chúng ta có thể biết Việt Nam có tân Hồng Y hay không trong công nghị tấn phong Hồng Y sắp tới?
Đặng Tự Do
15:40 16/09/2026


Ngày chính thức tổ chức Công Nghị Hồng Y tiếp theo vẫn chưa được công bố.

Sau phiên họp đặc biệt gần đây nhất được tổ chức vào từ 26 đến 27 tháng 6 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tuyên bố trong lời bế mạc rằng ngài sẽ công bố ngày tổ chức phiên họp tiếp theo vào cuối năm nay. Cho nên, thời điểm sớm nhất chúng ta có thể biết Việt Nam có tân Hồng Y hay không là vào cuối năm nay.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bày tỏ mong muốn mạnh mẽ thiết lập một mô hình nhất quán là triệu tập Hồng Y đoàn họp mặt để thảo luận ít nhất một hoặc hai lần một năm. Những tin đồn và dự đoán dai dẳng từ Vatican cho thấy Công Nghị Hồng Y tiếp theo có thể diễn ra vào khoảng tháng Hai năm 2027.

Vì một số lượng đáng kể các Hồng Y cử tri sẽ quá tuổi 80, nghĩa là mất quyền bỏ phiếu trong Cơ Mật Viện bầu Giáo Hoàng, vào cuối năm 2027, các nhà phân tích của Vatican suy đoán rằng cuộc họp sắp tới có thể đóng vai trò là một "hội nghị thảo luận" về các tân Hồng Y hoặc thậm chí có khả năng là dịp mà Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ tấn phong các tân Hồng Y đầu tiên.

Trong trường hợp Đức Giáo Hoàng Lêô quyết định tấn phong Hồng Y vào Tháng Hai, ngài sẽ công bố danh sách các Tân Hồng Y vào Tháng Giêng, vì việc tấn phong Tân Hồng Y thường được công bố ít nhất một tháng trước công nghị để các vị tân Hồng Y có thời gian chuẩn bị.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã để lại một Hồng Y đoàn khá lớn. Khi ngài qua đời, có 135 Hồng Y có thể bỏ phiếu trong Cơ Mật Viện bầu Giáo Hoàng, nhiều hơn 15 vị so với giới hạn 120 do Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục thiết lập. Hiện nay, có 117 Hồng Y cử tri, hoặc 118 nếu tính cả Hồng Y Angelo Becciu, người mà tình trạng pháp lý vẫn chưa được làm rõ. Năm 2027, sẽ có thêm 13 Hồng Y bước sang tuổi 80 và do đó sẽ không còn đủ điều kiện tham gia Cơ Mật Viện bầu Đức Giáo Hoàng nữa. Kết quả là, vào cuối năm 2027, có thể sẽ chỉ còn 104 Hồng Y cử tri, và Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ có 16 vị trí để bổ nhiệm thêm Hồng Y mới, nếu ngài muốn tuân thủ giới hạn do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập.

Không giống như các vị Giáo Hoàng khác, những người luôn tổ chức công nghị đầu tiên để tấn phong Hồng Y, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã quyết định sử dụng các cuộc họp đầu tiên của ngài chủ yếu làm nơi gặp gỡ các Hồng Y, những dịp để thảo luận về hiện trạng và tương lai của Giáo hội.

Bộ Giáo luật quy định hai loại công nghị: công nghị bình thường và công nghị ngoại thường. Công nghị ngoại thường được tổ chức trong những trường hợp đặc biệt, và tất cả các Hồng Y đều được triệu tập đến công nghị ngoại thường. Trái lại, công nghị bình thường được tổ chức khi Đức Giáo Hoàng cần tham khảo ý kiến của các Hồng Y về một số vấn đề quan trọng nhưng thường lệ hoặc để thực hiện các nghi lễ trọng thể.

Công nghị ngoại thường có thể bao gồm việc tấn phong tân Hồng Y, nhưng cũng có thể là một công nghị để thảo luận. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV muốn biến việc triệu tập công nghị ngoại thường để thảo luận thành một sự kiện hai năm một lần. Công nghị đầu tiên thuộc loại này đã được triệu tập trong 2 ngày 7 và 8 Tháng Giêng năm 2026, và công nghị tiếp theo diễn ra trong 2 ngày 26 và 27 tháng 6 vừa qua.

Cho đến nay Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không thành lập "Hội đồng Hồng Y" như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã làm.

Hội đồng (được gọi là "C9" vì gồm chín Hồng Y) là một dạng ban cố vấn cho Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không đưa hội đồng này vào trong thông điệp Praedicate Evangelium, và do đó, nó không được coi là một cơ quan của Giáo triều Rôma hay một cơ quan thường trực. Đó là một nhóm cố vấn theo ý muốn của Đức Giáo Hoàng.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tỏ ra trọng truyền thống hơn là vị tiền nhiệm của ngài, và có lẽ đã quyết định triệu tập toàn thể các Hồng Y để tham vấn hơn là chỉ một nhóm nhỏ.


Source:National Catholic Register
 
Quá sức báng bổ: Thượng Phụ Kirill gửi hài cốt chiến binh thời Trung cổ đến mặt trận Ukraine để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân xâm lược Nga
Đặng Tự Do
15:41 16/09/2026


Trong một cử chỉ hết sức báng bổ Giáo hội Chính thống Nga đã gửi một mảnh xương bàn tay phải của một vị hoàng tử chiến binh thời trung cổ cho quân đội Nga ở Ukraine bị tạm chiếm, nói rằng di vật này sẽ củng cố tinh thần của họ.

Tuyên bố của Thượng Phụ Kirill đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt của thế giới Chính Thống Giáo. Các quan sát viên nhấn mạnh rằng tuyên bố của Kirill xúc phạm đến danh thánh Chúa khi cho rằng Chúa ủng hộ một bọn xâm lược tàn bạo trong một cuộc chiến phi nghĩa đã gây ra con số thương vong lên đến hơn 2 triệu người và thiêu đốt hết ngàn tỷ này đến ngàn tỷ khác.

Theo Kirill, di hài của Đại Hoàng tử Dmitry Donskoy đã được phát hiện vào mùa hè năm nay trong quá trình trùng tu Nhà thờ Tổng lãnh thiên thần ở Mạc Tư Khoa, bên trong Điện Cẩm Linh.

Donskoy, người qua đời năm 1389, được những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga tôn kính vì đã đánh bại quân đội của Hãn quốc Kim Trâm trong trận Kulikovo năm 1380.

Putin đã đích thân thị sát những di vật này vào tháng 8, mô tả việc phát hiện ra chúng là "hoàn toàn độc đáo và kỳ diệu" và nói rằng điều đó "củng cố nền tảng của lịch sử Nga".

Tên của Donskoy được đặt cho một đoàn xe tăng Liên Xô do Giáo hội tài trợ trong Thế chiến II. Giáo hội Chính thống Nga đã phong thánh cho ông vào năm 1988.

Các nhà phê bình cáo buộc Thượng Phụ Kirill đã vi phạm nghi thức tôn giáo khi mở mộ. Mặc dù nơi chôn cất của Donskoy từ lâu đã được biết đến rộng rãi, nhưng không có nỗ lực nào được thực hiện để khai quật và tôn kính hài cốt của ông trong gần bốn thập niên kể từ khi ông được phong thánh.

Bất chấp những phản đối, Thượng Phụ Kirill đã lấy một mảnh xương từ bàn tay phải của Donskoy và đặt nó trong một hộp đựng thánh tích được trang trí công phu, được bảo vệ bởi kính cường lực.

Hôm thứ Ba, ngày 8 tháng 9, các giáo sĩ cao cấp của Giáo hội Chính thống giáo đã tổ chức một buổi lễ cầu nguyện xung quanh thánh tích tại đài tưởng niệm chiến tranh Saur-Mogila ở tỉnh Donetsk bị tạm chiếm. Các đại diện quân đội Nga và các quan chức do Điện Cẩm Linh bổ nhiệm cũng tham dự.

Di vật này giờ đây sẽ được trưng bày cho các đơn vị chiến đấu của Nga dọc theo chiến tuyến dài hơn 1.000 km.

"Chính bàn tay phải mà ông ấy đã dùng để vung kiếm... đã được gửi ra tiền tuyến," Thượng Phụ Kirill cho biết, khẳng định rằng thánh tích này sẽ củng cố tinh thần của các binh sĩ.

Thượng Phụ Kirill gọi Donskoy là "vị chỉ huy thánh thiện" của quân đội Nga và nói rằng ông sẽ "sát cánh cùng" quân đội Nga.

Giáo hội Chính thống Nga đã mạnh mẽ ủng hộ hành động gây hấn của Điện Cẩm Linh, cử các linh mục đến các đơn vị quân đội, ra lệnh cầu nguyện cho chiến thắng của Nga và miêu tả cuộc chiến chống Ukraine như một cuộc đấu tranh tôn giáo.

Đầu năm nay, các thánh tích của Alexander Nevsky, một vị hoàng tử thời trung cổ khác được Thượng Phụ Kirill và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga tôn kính, cũng đã được gửi ra mặt trận.
 
Giám mục Kharkiv gặp Đức Giáo Hoàng: Phải làm mọi cách để chấm dứt chiến tranh.
Đặng Tự Do
15:42 16/09/2026


Giám mục Pavlo Honcharuk, của giáo phận Kharkiv-Zaporizhia, một trong những giáo phận Ukraine bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc xung đột, đã gặp gỡ Đức Giáo Hoàng vào ngày 11 tháng 9 tại Vatican và cảm ơn ngài về sự hỗ trợ, lời cầu nguyện và sự quan tâm.

Trao đổi với Vatican News ngay sau buổi tiếp kiến riêng với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tại Vatican hôm thứ Sáu, Giám mục Pavlo Honcharuk của Kharkiv-Zaporizhzhia ở Ukraine cho biết ngài vô cùng an ủi trước những lời bảo đảm của Đức Giáo Hoàng rằng mọi việc đang được thực hiện để "chấm dứt cuộc chiến này".

Tên của hai thành phố Ukraine này đã trở nên quen thuộc một cách đáng buồn trong các bản tin trên khắp thế giới, bởi vì chúng nằm trong số những thành phố gần biên giới Nga nhất và do đó là những mục tiêu bị nhắm đến nặng nề nhất bởi bạo lực và sự tàn bạo của một cuộc xung đột dường như không có hồi kết.

Đức Cha Honcharuk mô tả Kharkiv như một "ngọn lửa", "tâm điểm" của cuộc chiến.

"Đức Giáo Hoàng đã đón tiếp chúng tôi với tấm lòng rộng mở, và toàn thể những người được đón tiếp đều rất nồng hậu," vị Giám mục nói với Vatican News.

Cùng tham dự buổi gặp mặt kéo dài khoảng một giờ đồng hồ với ngài còn có Cha Volodymyr Kyrylyuk, hiệu trưởng chủng viện của Giáo phận Latinh Kamyanets-Podilskyi và là linh mục tình nguyện phục vụ một đơn vị binh sĩ, người mà ngài cung cấp sự hỗ trợ mục vụ. Ngài cũng là thành viên của Ủy ban Linh mục Quân đội thuộc Hội đồng Giám mục Latinh tại Ukraine.

Cũng có mặt là Sơ Nelia Kutsak, một thành viên của cùng ủy ban, và Tatiana Goncharuk, một nhà tâm lý học. Từ năm 2014, cả hai đã làm việc với các binh sĩ và gia đình của những người đã hy sinh trong khi vẫn tiếp tục giảng dạy tại Trường Đào tạo Linh mục.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV một lần nữa kêu gọi chấm dứt bạo lực ở Ukraine và bày tỏ sự tiếc nuối về "các cuộc tấn công bạo lực gần đây đã nhắm vào nhiều thành phố và cơ sở hạ tầng dân sự ở...".

"Tất cả họ đều tự giới thiệu với Đức Giáo Hoàng và xin phép lành cho công việc phục vụ của mình," Đức Cha Honcharuk giải thích. "Chúng tôi nhận được phép lành này từ Đức Thánh Cha không chỉ cho riêng mình mà còn cho tất cả những người đang nỗ lực bảo vệ mạng sống con người."

Về phần mình, Giám mục cho biết ngài đã nhiều lần cảm ơn Đức Giáo Hoàng: "Tôi cảm ơn ngài vì những lời cầu nguyện, sự quan tâm và tất cả những gì ngài làm để hỗ trợ đất nước chúng tôi. Và cũng cảm ơn sự giúp đỡ của ngài trong việc giải phóng các tù nhân và đưa các em nhỏ trở về nhà. Tôi nói rằng chúng tôi trông cậy vào những lời cầu nguyện và sự hỗ trợ của ngài vì đó là nguồn sức mạnh to lớn đối với chúng tôi."

Đức Cha Honcharuk cũng nhắc lại lời mời Đức Giáo Hoàng đến thăm Ukraine: "Đó sẽ là một dấu hiệu tuyệt vời đối với chúng tôi. Trong trường hợp đó, tôi nói với ngài, ngài sẽ phải đến Kharkiv."

Đức Cha cho biết ngài sẽ mang về giáo phận và giáo dân của mình, những người đang kiệt sức vì bom đạn và bạo lực, những lời khích lệ của Đức Giáo Hoàng: "Ngài nói rằng mọi việc đang được thực hiện để chấm dứt cuộc chiến này; rằng rất nhiều công việc đang được tiến hành theo hướng này, " cả về mặt ngoại giao và tâm linh.

"Đối với chúng tôi, điều này rất quan trọng vì nó giúp chúng tôi hiểu rằng chúng tôi không đơn độc, rằng thế giới thấy rõ ai là nạn nhân và ai là kẻ gây hấn," Giám mục Kharkiv tiếp tục.

Các chuyến thăm Ukraine mùa hè này của Đức Tổng Giám Mục Paul Richard Gallagher, Thư ký phụ trách quan hệ với các quốc gia của Vatican, và Hồng Y Matteo Zuppi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý, gọi tắt là CEI, cũng rất quan trọng trong vấn đề này.

"Những điều này chứng tỏ Tòa Thánh đang nỗ lực hết sức trong khả năng của mình. Nói cách khác, họ đang sử dụng toàn bộ ‘kho vũ khí’ của mình, tất cả các công cụ sẵn có, để thúc đẩy sự nghiệp này," Giám mục nhấn mạnh.

Khi Ukraine bước vào một mùa đông chiến tranh khác, Henry Wilson-Smith của CAFOD mô tả một cộng đồng dân cư sống trong tình trạng báo động không kích gần như thường xuyên, chuẩn bị cho việc mất điện và phụ thuộc vào...

Giọng nói của Giám mục thay đổi khi được hỏi về cuộc sống hiện tại của người dân ở Kharkiv, nơi hàng ngàn người đã thiệt mạng, vô số người khác bị thương và các cuộc không kích vẫn tiếp diễn không ngừng nghỉ - một trong những cuộc không kích gần đây nhất diễn ra vào ngày 8 tháng 9.

"Đây vừa là một câu hỏi rất đơn giản, lại vừa là một câu hỏi rất phức tạp," ngài trả lời.

"Nó đơn giản vì chúng ta thấy những gì đang xảy ra. Nó phức tạp vì chúng ta đang chứng kiến những cuộc tấn công liên tục nhằm vào thường dân, nhằm vào các kho hàng - một cỗ máy giết người thực sự. Nhiều người đang chết, trẻ em đang chết, người dân đang mất nhà cửa. Điều này thực sự giống như một cuộc diệt chủng người dân Ukraine."

Theo Giám mục Honcharuk, dường như phía kẻ gây hấn có "mong muốn loại bỏ".

Ngài cũng đưa ra những đánh giá gay gắt tương tự về các cuộc đàm phán gần đây liên quan đến Ukraine, bao gồm cả các phái viên của Mỹ tại Mạc Tư Khoa và Kyiv, các cuộc đàm phán giữa Tổng thống Trump và Putin, những động thái cởi mở rõ ràng của tổng thống Nga, và tuyên bố của Tổng thống Ukraine Zelenskiy về khả năng thỏa hiệp chỉ khi Mạc Tư Khoa nhượng bộ điều gì đó.

"Đây chỉ là một trò chơi," Giám mục Kharkiv nói. "Nếu tất cả những điều này là có thể, thì nó đã được thực hiện từ lâu rồi."

Đức Giám Mục nhấn mạnh rằng cuộc chiến ở Ukraine không "giống như một trận túc cầu". "Chúng ta không nên nhìn vào việc ai thắng và ai thua."

Có người đang chết, có người sẽ mang vết sẹo suốt đời, và có người kinh hoàng vì "có những kẻ muốn xâm nhập vào quốc gia này để tiêu diệt nó."

"Đó chính xác là việc gieo rắc nỗi sợ hãi và cái chết," ngài khẳng định.

Hy vọng chiến tranh sẽ sớm kết thúc.

Như vậy, Giám mục Honcharuk hy vọng rằng "chiến tranh sẽ kết thúc càng sớm càng tốt".

" Chúng ta cầu xin Chúa cho tình yêu của Ngài thấm đẫm vào trái tim mọi người. Bởi vì nếu tình yêu của Chúa ngự vào trái tim tôi, nó sẽ nâng cao phẩm giá của tôi. Và chỉ khi nào, với tư cách là một con người, tôi cảm nhận được phẩm giá của chính mình, tôi mới có thể nhìn thấy phẩm giá của người khác. Mọi cuộc chiến tranh đều bắt đầu khi con người thiếu đi trái tim," ngài kết luận.


Source:Vatican News
 
Giáo Hội Công Giáo và vấn đề nhập cư: Hướng tới một văn kiện Humanae Vitae mới?
Vũ Văn An
15:51 16/09/2026

Một người lao động di cư bám vào hàng rào an ninh tại khu vực biên giới. (Ảnh: Canva)

Cộng đồng Công Giáo Mỹ đang đối diện với sự chia rẽ khi các nhà thần học thuộc trường phái "hậu tự do" (post-liberal) lên tiếng ủng hộ việc trục xuất hàng loạt người di cư, qua đó trực tiếp thách thức hàng giáo phẩm và giáo huấn xã hội truyền thống của Giáo hội.

Massimo Faggioli, trong mục Global Catholic của hãng tin UCA News, ngày 16 tháng 9, 2026, nhận định rằng: Một bóng ma đang ám ảnh Giáo Hội Công Giáo: bóng ma của một cuộc ly giáo không chính thức khác, tương tự như cuộc ly giáo từng xảy ra sau khi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành thông điệp Humanae Vitae năm 1968 và đưa ra giáo huấn về vấn đề ngừa thai. Lần này, vấn đề gây chia rẽ chính là nhập cư.

Vào ngày 11 tháng 9, tờ Washington Post đã đăng một bài bình luận của Nathan Pinkoski với tiêu đề: "Vấn đề này đang chia rẽ Giáo Hội Công Giáo".

Tác giả là nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Đổi mới nước Mỹ (Center for Renewing America) – một tổ chức tư vấn (think tank) có khuynh hướng cánh hữu do Russell Vought sáng lập vào năm 2021 (ông Vought từng giữ chức Giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách dưới thời chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu). Ông Pinkoski hiện cũng đang dịch cuốn sách bán chạy The Suicide of the French (tựa gốc: Le Suicide français) của Éric Zemmour – một chính trị gia, nhà văn kiêm nhà báo chính trị thuộc phe cực hữu tại Pháp.

Pinkoski nhận định rằng các giám mục và giáo dân Công Giáo đang ngày càng xa rời nhau trong vấn đề nhập cư: "Việc giáo dân ủng hộ xây dựng bức tường biên giới hoàn toàn trái ngược với quan điểm chính thức của hàng giáo phẩm."

Ông cho rằng, xét đến các xu hướng nhân khẩu học hiện nay (với đông đảo giáo dân đi lễ có khuynh hướng bảo thủ được chăm sóc mục vụ bởi số lượng ngày càng tăng các giáo sĩ sinh ra ở nước ngoài), sự chia rẽ này chắc chắn sẽ còn tiếp diễn trong lòng Giáo Hội Công Giáo.

Cuối cùng, ông đưa ra một đề xuất: "Các giám mục Công Giáo – những người mong muốn củng cố vai trò làm chứng của Giáo hội – nên cân nhắc thảo luận về vấn đề nhập cư theo hướng thực tế hơn; cụ thể là khuyến khích cử tri cân nhắc kỹ lưỡng những lợi ích và tác động đối với các quốc gia và cộng đồng tiếp nhận người di cư. Quan điểm này có thể giúp hạ nhiệt căng thẳng chính trị và giảm bớt những ngôn từ mang tính hạ thấp phẩm giá con người trong một quốc gia và một Giáo hội đang bị chia rẽ."

Tình hình tại châu Âu cũng không khác biệt nhiều, nếu chúng ta tạm gác lại yếu tố Trump và trào lưu Công Giáo ủng hộ MAGA. Tuy nhiên, trong bài viết của mình, Pinkoski chủ yếu đề cập đến Hoa Kỳ – nơi vấn đề này đang leo thang lên một mức độ mới. Vào ngày 10 tháng 9, thông tin được công bố rộng rãi rằng nhà thần học Công Giáo Chad Pecknold – người giữ chức giáo sư tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ ở Washington, D.C. (trường đại học của các giám mục Công Giáo Hoa Kỳ) từ năm 2008 – đã gia nhập Bộ An ninh Nội địa (DHS) với tư cách là giám đốc chính phụ trách mảng kết nối công chúng thuộc Văn phòng Gắn kết Công chúng.

Ông Pecknold đã nhiều lần lên tiếng bảo vệ các chính sách nhập cư của chính quyền Trump dựa trên các lập luận thần học.

Vào ngày 4 tháng 9, Giáo sư Pecknold đã tham dự một buổi thảo luận về vấn đề di cư tại Đại sứ quán Hungary ở thủ đô Hoa Kỳ. Sự kiện này xoay quanh một tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Axioma (Budapest) và có sự tham gia của đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Quỹ Heritage cùng nhiều bên khác.

Ông Pecknold tán thành tài liệu này; văn bản đó nêu quan điểm rằng mặc dù giáo lý Kitô giáo đòi hỏi lòng trắc ẩn đối với người tị nạn, nhưng các nhà lãnh đạo cũng có nghĩa vụ duy trì an ninh, trật tự công cộng và sự gắn kết xã hội. Tài liệu cũng viết thêm: "Việc trục xuất hàng loạt có thể là một phản ứng chính đáng trước tình trạng di cư ồ ạt."

Là một học giả chuyên nghiên cứu về Thánh Augustinô, ông Pecknold hứa hẹn sẽ tạo ra sự chú ý khi tương tác với "người con của Thánh Augustinô" quan trọng nhất trong Giáo Hội Công Giáo hiện nay: Đức Giáo Hoàng Leo XIV.

Ông Pecknold dường như có quan điểm gần gũi hơn với Phó Tổng thống Hoa Kỳ kiêm một tín hữu Công Giáo khác là ông JD Vance. Tại đại hội của Đảng Cộng hòa ở Dallas (diễn ra ngày 9-10 tháng 9), ông Vance từng phát biểu: "Chúng tôi đã quá mệt mỏi khi bị gán mác phân biệt chủng tộc chỉ vì nhận thấy đất nước mình đang trở nên bẩn thỉu và nghèo nàn hơn"; đồng thời, ông cũng viện dẫn khái niệm ordo amoris ("trật tự của tình yêu") để biện minh cho các biện pháp hạn chế nhập cư và trục xuất hàng loạt của chính quyền Trump.

Những tiếng nói Công Giáo Mỹ theo khuynh hướng "hậu tự do"

Trường hợp này đặt ra ba vấn đề. Vấn đề đầu tiên mang tính chính trị. Sự đối lập giữa các luồng quan điểm khác nhau trong cộng đồng Công Giáo Mỹ (một bên là các nhà thần học như Pecknold cùng những nhân vật theo khuynh hướng "hậu tự do", và bên kia là các giám mục Hoa Kỳ) khó có khả năng khơi dậy phản ứng từ Tòa Thánh Vatican.

Vấn đề này mang tính thời sự và quan trọng chủ yếu trong khuôn khổ mối quan hệ giữa các giám mục Hoa Kỳ và chính quyền liên bang. Đặc biệt là kể từ khi chính quyền Trump nhiệm kỳ hai bắt đầu và Đức Giáo Hoàng Leo XIV đắc cử vào nửa đầu năm 2025, các giám mục Hoa Kỳ đã lên tiếng thông qua hàng loạt thông điệp và hành động nhằm phản đối các chính sách bài trừ người nhập cư của chính quyền liên bang.

Chẳng hạn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB), Tổng giám mục Paul Coakley, gần đây (ngày 8 tháng 9) đã gửi thư kêu gọi Tổng thống Donald Trump chấm dứt việc trục xuất "một số lượng lớn" người nhập cư Haiti.

Người ta tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu người tại Bộ An ninh Nội địa (DHS) được giao nhiệm vụ xử lý lá thư của Tổng giám mục Coakley lại chính là nhà thần học Công Giáo Chad Pecknold – một giáo sư biên chế tại trường đại học của các giám mục Hoa Kỳ.

Một câu hỏi chính trị đáng lưu ý hơn là liệu có đang xuất hiện sự khác biệt giữa những gì vị Giáo hoàng và các giám mục Hoa Kỳ tuyên bố về vấn đề nhập cư cũng như quan điểm của giáo dân và các linh mục trẻ Công Giáo.

Mặc dù nhiều giáo dân ủng hộ ông Trump trong vấn đề nhập cư, nhưng giới giáo sĩ trẻ có thể lại không nghĩ như vậy: họ nhận thức rõ hơn về viễn cảnh tương lai của Giáo hội. Tôi nghi ngờ việc các linh mục trẻ—những người mong muốn cử hành Thánh lễ bằng tiếng Latinh—lại coi chính sách chống nhập cư là vấn đề sống còn mà họ sẵn sàng đấu tranh đến cùng.

Thứ hai là vấn đề thần học. Pecknold là một trong những người Công Giáo không nhìn thấy sự mâu thuẫn giữa việc trục xuất hàng loạt người nhập cư và giáo huấn của Công Giáo về vấn đề nhập cư.

Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây có tựa đề Mass Expulsion: The Politics of Forced Population Removal (tạm dịch: Trục xuất hàng loạt: Chính trị của việc cưỡng bức di dời dân cư - NXB Đại học Oxford, 2026), Meghan Garrity giải thích thời điểm và địa điểm diễn ra các cuộc trục xuất, đối tượng bị nhắm đến, cũng như các định chế chính trị nào có nhiều khả năng thực hiện việc trục xuất nhất.

Garrity xác định hai nhóm chính của việc trục xuất hàng loạt—an ninh và kinh tế—và xây dựng một hệ thống phân loại gồm bốn dạng tương ứng: chống lại chủ nghĩa đòi lại lãnh thổ (counter-irredentist), chống lại các thế lực lật đổ (counter-subversive), trả đũa (reprisal), và bảo vệ bản sắc dân tộc/bài ngoại (nativist).

Dựa trên những gì chúng ta biết về quan điểm Công Giáo "hậu tự do" (post-liberal) đối với vấn đề nhập cư, lập luận ủng hộ việc trục xuất hàng loạt dường như là sự kết hợp của các yếu tố: chống lại các thế lực lật đổ (cho rằng một số nhóm người nhập cư có quan điểm chính trị không tương thích với lợi ích quốc gia và chính sách đối ngoại của Mỹ), bảo vệ bản sắc dân tộc/bài ngoại (cho rằng họ không thể hòa nhập vào văn hóa và tôn giáo Mỹ theo quan niệm của phe này), và kinh tế (tác động đến tiền lương của người lao động bản địa, gánh nặng tài chính đối với các dịch vụ công, v.v.).

Sự kết hợp giữa các lập luận này rõ ràng đi ngược lại với giáo lý Công Giáo về vấn đề nhập cư.

Câu hỏi đặt ra là liệu giáo lý này sẽ được phát triển thêm như thế nào, trong bối cảnh các lập luận trên xuất phát từ một luồng ý kiến bất đồng nội bộ, mang lại những hệ quả vượt xa phạm vi đời sống của Giáo hội.

Vấn đề thứ ba, có liên quan đến vấn đề thứ hai, thuộc về giáo luật. Theo quy chế của Đại học Công Giáo Hoa Kỳ (CUA), Tổng giám mục đương nhiệm của Washington mặc nhiên giữ chức Viện trưởng danh dự (chancellor) của trường.

Hồng Y Robert McElroy—người giữ chức Tổng giám mục thủ đô từ tháng 3 năm 2025—đã công khai bày tỏ quan điểm chỉ trích mạnh mẽ các chính sách nhập cư của chính quyền Trump; theo một khía cạnh nào đó, đã có sự lên tiếng phản đối công khai về bản chất của vấn đề này.

Trước đó, CUA từng là tâm điểm của một vụ việc gây xôn xao dư luận liên quan đến giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về vấn đề kiểm soát sinh sản. Năm 1986, nhà thần học Công Giáo người Mỹ Charles Curran (sinh năm 1934) đã bị loại khỏi đội ngũ giảng viên của Đại học Công Giáo Hoa Kỳ (CUA) do có quan điểm bất đồng với giáo huấn luân lý của Giáo Hội Công Giáo.

Trong lá thư đề ngày 25 tháng 7 năm 1986 gửi cho Cha Curran, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger (khi đó là Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin) đã viết: “Bộ đã khẳng định lập trường rằng một người bất đồng với Huấn quyền như cha thì không phù hợp và không đủ điều kiện để giảng dạy thần học Công Giáo. Do đó, Bộ từ chối giải pháp thỏa hiệp mà cha đưa ra, bởi lẽ thần học Công Giáo đích thực có một sự thống nhất hữu cơ—một sự thống nhất mà cả về nội dung lẫn phương pháp đều gắn bó mật thiết với lòng trung thành đối với Huấn quyền của Giáo hội.”

Đức Hồng Y Ratzinger nói thêm: “Các tín hữu không chỉ phải chấp nhận Huấn quyền bất khả ngộ. Họ còn phải dành sự phục tùng tôn giáo về trí tuệ và ý chí đối với những giáo huấn mà Đức Giáo Hoàng hoặc Hội đồng Giám mục công bố về đức tin hay luân lý khi thực thi Huấn quyền đích thực, ngay cả khi các ngài không có ý định tuyên bố điều đó bằng một hành vi dứt khoát.”

Sự bất đồng trong nội bộ Công Giáo về giáo huấn của Giáo hội liên quan đến vấn đề nhập cư

Vẫn còn phải chờ xem Vatican sẽ phản ứng thế nào trước thách thức từ kiểu bất đồng mới này.

Có lẽ một trường hợp tương đồng hơn là vụ việc của linh mục Dòng Tên Robert Drinan (1920-2007); ông từng là dân biểu đắc cử đại diện bang Massachusetts và gặp rắc rối vì những lá phiếu ủng hộ các vấn đề đi ngược lại giáo huấn của Giáo hội.

Điểm tương đồng với trường hợp của ông Pecknold là sự giao thoa giữa quan điểm bất đồng với luật pháp và chính sách thực tế của chính phủ—một yếu tố chưa từng xuất hiện trong vụ việc của cha Curran.

Một trường hợp tương đồng khác—đồng thời là lời cảnh báo đối với những người Công Giáo theo chủ nghĩa toàn vẹn (integralist)—có thể là sự tự do mà nhà tư tưởng pháp lý kiêm thẩm phán Công Giáo Ernst-Wolfgang Böckenförde (1930-2019) đã khẳng định khi nhận chức tại Tòa án Hiến pháp Tây Đức (lúc bấy giờ). Ông nhận thức rõ rằng mình có thể sẽ phải đưa ra phán quyết về những thay đổi trong luật phá thai của Cộng hòa Liên bang Đức sau khi tái thống nhất với Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức).

Là người tin tưởng mạnh mẽ vào tự do học thuật, tôi không cho rằng vụ việc của Charles Curran nên được coi là tiền lệ để noi theo.

Ông Pecknold có quyền sai lầm. Quyền lợi của ông Pecknold trong trường hợp này còn được bảo vệ thêm nhờ việc ông đã xin nghỉ phép; điều này tạo ra một khoảng cách nhất định giữa cá nhân ông và vị thế của ông tại CUA.

Mặt khác, Giáo sư Pecknold đang đưa quan điểm bất đồng của mình đối với giáo huấn Công Giáo về vấn đề nhập cư vượt xa khỏi phạm vi lớp học hay các trang tạp chí học thuật. Vụ việc này một lần nữa đặt ra vấn đề then chốt về tác động mang tính sống còn của giáo huấn Giáo hội đối với cuộc sống của những người bình thường – dù là người Công Giáo hay không.

Những người Công Giáo theo khuynh hướng "hậu tự do" (post-liberal) như Pecknold dường như không bao giờ bận tâm khi những quan điểm mang tính loại trừ của mình lại đi ngược lại tinh thần bao dung của Chúa Giê-su Kitô và Thánh Phao-lô. Họ tìm cách dung hòa những điều này bằng các thủ thuật biện luận triết học hoặc đạo đức, pha trộn với cái mà họ gọi là chủ nghĩa hiện thực chính trị. Cách họ nhìn nhận Kitô giáo thiên về lập luận triết học và pháp lý hơn là tinh thần sống theo gương môn đệ.

Dưới góc độ của nhà sử học, câu hỏi đặt ra trước tiên là liệu những bất đồng nội bộ hiện nay trong Giáo Hội Công Giáo về vấn đề nhập cư có dẫn đến một loạt tranh cãi tương tự như những gì từng xảy ra với các giáo huấn về tính dục và các vấn đề liên quan đến sự sống hay không. Thông điệp Humanae Vitae từng vấp phải bối cảnh đầy sóng gió của các cuộc tranh luận về chính trị tính dục trong thập niên 1960; và bối cảnh chính trị sinh học mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa của thập niên 2020 cũng đầy cam go không kém.
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Phóng sự Gia Đình Châu Sơn Dallas-Ft Worth mừng lễ bổn mạng
Trần Mạnh Trác
12:27 16/09/2026
Xem hình ảnh

Theo thông lệ hằng năm, ngày 12 tháng 9 năm 2026 Gia Đình Châu Sơn Hải Ngoại Miền Dallas/Fort Worth Texas, Hoa Kỳ đã tổ chức mừng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, một cách trọng thể tại Giáo Xứ Th Giuse: 1902 S. Belt Line Road Grand Prairie, TX 75051.

Buổi lễ do đức Viện Phụ Dominic Savio Trần Thiết Hùng chủ tế với sự đồng tế cuả cha Chánh Xứ, Lm Giuse Nguyễn Văn Minh, SDD.

Nói về lịch sử thì Gia Đình Châu Sơn Hải Ngoại là một Hội Bảo Trợ cho Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương, bắt đầu thành lập ỡ Đan Viện “Con” Thánh Mẫu Châu Sơn Sacramento California Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 08 năm 2001, ngày nay Gia Đình Châu Sơn Hải Ngoại đã phát triển rộng rãi tới 19 miền trong nước Mỹ, và miền thứ 20 là Miền Vannes ở bên Pháp.

Tưởng cũng nên biết Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn Sacramento California là một “Nhà Con” cuà Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn ở Đơn Dương, VN.

Đan Viện Châu Sơn Đơn Dương trực thuộc Hội Dòng Xitô Thánh Gia.

Dòng Xitô đến Việt Nam vào năm 1918 với Đan viện đầu tiên ở Phước Sơn (Quảng Trị), sau đó vào năm 1936 một đan viện Châu Sơn được thành lập tại Nho Quan, Ninh Bình. Sau cuộc di cư năm 1954, vào năm 1957 Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương được thành lập tại xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương ngày nay có tới 5 “Nhà Con” kề ra là:

-Đan Viện Châu Sơn Sacramento, Sacramento, California, Hoa Kỳ
-Đan Viện Châu Lâm,Tân Phú, Đồng Nai, Việt Nam
-Cộng Đoàn Châu Sơn Notgottes – Đức
-Cộng đoàn Mộc Sơn, VN
-Cộng Đoàn Châu Sơn Bangkok, Bangkok, Thái Lan.

Trở lại với Gia Đình Châu Sơn Hải Ngoại Miền Dallas/Fort Worth, thì sau khi dự lể sốt sắng, các hội viên đã tham dự một bữa ăn trưa vào lúc 12g tại hội trường tráng lệ cuả Gx Th. Giuse. Đây cũng là dịp mà các hội viên đóng tiền niên liễm hằng năm.

Đặc biệt năm nay, nhà dòng ở Sacramento cũng kêu gọi gây quĩ để xây dựng thêm một hội trường, làm chỗ cho các hội đoàn tới sinh hoạt trong các dịp lễ tổ chức tại nhà dòng. Một nhà bảo trợ đã hứa sẽ đóng góp tương xứng với số tiền thu được trong ngày. Chúng tôi không biết rõ tổng kết số tiền thu được là bao nhiêu, nhưng mong rằng sẽ không nhỏ để hoàn tất việc xây dựng hội trường mới này, mà chỉ còn thiếu khoảng vài trăm ngàn mà thôi.
 
VietCatholic TV
Tướng Nga ác quá, lính trả thù mật báo cho Ukraine phóng HIMAR lấy mạng. 2 cú tấn công hụt Zelensky
VietCatholic Media
03:52 16/09/2026


1. Tổng thống Zelenskiy nói rằng Nga đã tấn công Moldova hai lần vì ông đang ở đó.

Trong một cuộc phỏng vấn với CBS News hôm Thứ Ba, 15 Tháng Chín, được công bố vào ngày 16 tháng 9, Tổng thống Zelenskiy cho biết Nga đã cố tình tấn công Moldova bằng máy bay điều khiển từ xa khi ông đang đi qua nước này.

"Ở Moldova, máy bay riêng của tôi đã ở đó, và đó là lý do tại sao họ tấn công Moldova," Tổng thống Zelenskiy nói.

Ông nói thêm rằng có thể Nga không muốn tấn công ông "trực tiếp" và khi được hỏi, ông đồng ý rằng Nga có thể muốn đe dọa ông.

Ngày 9 tháng 9, một nguồn tin giấu tên nói với tờ Kyiv Independent rằng một máy bay điều khiển từ xa loại Shahed của Nga, nghi ngờ đã xâm phạm không phận Moldova và Rumani vào ngày 8 tháng 9, suýt chút nữa đã đâm vào máy bay của Tổng thống Zelenskiy khi nó đang cất cánh từ Moldova.

Tổng thống Zelenskiy đang trên đường đến Na Uy để gặp Thủ tướng Na Uy Jonas Gahr Store trước lễ tang của Quốc vương Harald V.

"Máy bay của ông ấy suýt bị máy bay điều khiển từ xa tấn công khi đang cất cánh từ Moldova. Đây là thực tế mà ông ấy phải đối mặt", Store nói với đài truyền hình Na Uy NRK.

Sau đó, Tổng thống Zelenskiy đã đến Iceland và Canada, nơi ông ký kết thỏa thuận hợp tác 100 năm với Ottawa trước khi trở về Ukraine qua Moldova.

"Chúng tôi không chia sẻ thông tin đó với giới truyền thông. Đúng vậy, nhưng khi chúng tôi trở về nước, lại qua Chisinau, họ cũng làm điều tương tự... Tôi không tin tưởng họ. Tôi nghĩ rằng họ đã biết," Tổng thống Zelenskiy nói.

Ông cũng cho biết thỏa thuận ngừng bắn năng lượng do Tổng thống Donald Trump công bố ngày 14 tháng 9 không có hiệu lực, đồng thời nói thêm rằng Putin sẽ không đáp trả sự yếu kém.

"Không. Putin không tôn trọng, không nhìn nhận, và thậm chí sẽ không nghĩ đến việc đàm phán với những người yếu thế. Đó là lý do tại sao chúng tôi đáp trả. Chúng tôi không bao giờ tấn công trước," Tổng thống Zelenskiy nói.

[Kyiv Independent: Russia attacked Moldova twice because Zelensky was there, he says]

2. Tổng thống Zelenskiy cho biết các hỏa tiễn đánh chặn mới dành cho máy bay điều khiển từ xa phản lực của Nga đã được "thử nghiệm thành công".

Ngày 15 tháng 9, sau cuộc họp báo của Tổng tư lệnh Quân đội Ukraine Mykhailo Drapatyi, Ukraine cho biết nước này đã "thử nghiệm thành công" một loại máy bay điều khiển từ xa đánh chặn khác được thiết kế để tấn công vào các máy bay điều khiển từ xa Shahed chạy bằng động cơ phản lực của Nga.

Khi Nga mở rộng kho vũ khí máy bay điều khiển từ xa phản lực kiểu Shahed, bao gồm Geran-3, Geran-4 và Geran-5, cùng với đạn dược lượn vòng Banderol giống hỏa tiễn hành trình, Ukraine đang phải đối mặt với những khó khăn ngày càng lớn trong việc đánh chặn các loại vũ khí này trong các cuộc tấn công kéo dài, với Kyiv và khu vực xung quanh thường xuyên trở thành mục tiêu.

"Hỏa tiễn ‘shahed’ đã bị bắn trúng thành công, nhưng một số khía cạnh điều khiển hỏa tiễn đánh chặn vẫn cần được hoàn thiện. Công việc vẫn đang tiếp diễn – sẽ mất thêm một thời gian nữa," Tổng thống Zelenskiy nói.

Các máy bay điều khiển từ xa phản lực có thể đạt tốc độ lên tới 600 km/giờ (gần 370 dặm/giờ), khiến chúng khó bị đánh chặn hơn so với các biến thể Shahed chạy bằng động cơ piston trước đây. Việc sử dụng chúng cũng tăng mạnh trong mùa hè này, tăng gấp năm lần trong tháng 7 so với tháng 6, phát ngôn nhân Không quân Yurii Ihnat cho biết vào ngày 31 tháng 8.

Theo Tổng thống Zelenskiy, Nga đã phóng gần 800 máy bay điều khiển từ xa phản lực về phía Ukraine trong vòng bốn ngày cuối tháng 8.

Ngày 29 tháng 8, Bộ trưởng Quốc phòng Yevhen Khmara cho biết Ukraine đã thử nghiệm thực địa bốn hỏa tiễn đánh chặn tiềm năng chống lại máy bay điều khiển từ xa Shahed chạy bằng động cơ phản lực của Nga, nhưng không nêu rõ công ty nào đang phát triển chúng hoặc dự án đã tiến triển đến đâu.

Anatolii Hrapchynskyi, phó giám đốc một công ty tác chiến điện tử kiêm sĩ quan dự bị Không quân, nói với tờ Kyiv Independent rằng việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa phản lực là điều có thể dự đoán được vì lực lượng Nga đã tìm cách áp đảo hệ thống phòng không của Ukraine.

[Kyiv Independent: New interceptors for Russian jet-powered drones 'successfully tested,' Zelensky says]

3. Hai chỉ huy Nga tên Milchakov đã qua đời.

Theo phong trào du kích Atesh, chỉ huy Quân đoàn 51 của Nga, Trung tướng Sergey Milchakov, đã thiệt mạng trong một cuộc tấn công của Ukraine vào một sở quân sự ở Donetsk.

Atesh cho biết như trên rằng Milchakov, Tư Lệnh Quân đoàn tổng hợp Vệ binh số 51 Donetsk thuộc Quân khu phía Nam của Nga, đã thiệt mạng vào ngày 26 tháng 8.

Vào ngày hôm đó, Lực lượng Quốc phòng Ukraine được tường trình đã tấn công sở chỉ huy chính và sở chỉ huy dự bị của quân đội Nga tại Donetsk.

"Các phóng viên quân sự Nga chắc chắn rằng anh ta đã bị chính người của mình giao nộp cho quân ta, bởi vì quân ta đã bắn trúng mục tiêu. Một giả thuyết rất thú vị!", Atesh nói.

Tập đoàn quân 51 là một phần của Quân khu phía Nam của Nga và được thành lập vào năm 2024 từ Quân đoàn Donetsk số 1, vốn trước năm 2022 trực thuộc "Dân quân" của Cộng hòa Nhân dân Donetsk do Nga hậu thuẫn.

Theo nhà báo quân sự Nga Semyon Pegov, Milchakov đứng đầu Quân đoàn 1 Donetsk từ năm 2022, thay thế Trung tướng Roman Kutuzov, người đã thiệt mạng gần Popasna.

Năm 2024, Milchakov được Putin phong tặng danh hiệu Anh hùng nước Nga. Ông được tường trình đã chỉ huy các chiến dịch của Nga nhằm chiếm Avdiivka, New York và các thị trấn khác trong vùng Donetsk. Tuy nhiên, việc phong tặng danh hiệu Anh hùng nước Nga cho Milchakov diễn ra một cách lặng lẽ vì ông ta đang bị điều tra về tội mua bán ma túy quy mô lớn.

Milchakov là vị tướng Nga thứ 23 thiệt mạng trong cuộc chiến ở Ukraine.

Thông tin này được đưa ra cùng lúc truyền thông Nga đưa tin về cái chết được tường trình của Alexei Milchakov, chỉ huy của Nhóm Trinh sát Tấn công và Phá hoại, gọi tắt là DSHRG "Rusich", một nhóm chiến đấu cực hữu của Nga đã tham chiến ở Ukraine từ năm 2014.

Nhóm này và các chỉ huy của nó đang chịu lệnh trừng phạt từ Liên Hiệp Âu Châu, Mỹ và các quốc gia khác.

Blogger người Nga Aslan Rubayev là một trong những người đầu tiên đưa tin về cái chết được tường trình của Alexei Milchakov.

"Tôi vừa nói chuyện với một đồng nghiệp, anh ta nói rằng Alexei Milchakov đã chết trong chiến dịch quân sự đặc biệt (tên gọi mà người Nga dùng để chỉ cuộc xâm lược Ukraine). Dù thế nào đi nữa, ông ấy là một người yêu nước vĩ đại. Tôi hy vọng ông ấy vẫn còn sống và đây chỉ là tin giả," ông cho biết.

Blogger quân sự người Nga Yuriy Kotenok cũng đưa tin về thông tin này. Tuy nhiên, trang tin Mash của Nga, dẫn nguồn tin thân cận với chỉ huy "Rusich", cho biết Alexei Milchakov vẫn còn sống và khỏe mạnh.

[Kyiv Post: Two Milchakovs, Russian Commanders Died]

4. Nga phóng máy bay điều khiển từ xa tấn công Kyiv, khiến ít nhất 1 người thiệt mạng và 12 người bị thương.

Theo chính quyền địa phương, lực lượng Nga đã tấn công Kyiv vào sáng ngày 16 tháng 9, khiến một người thiệt mạng và ít nhất 12 người khác bị thương.

Vào lúc 8 giờ 39 phút sáng giờ địa phương, Cơ quan Hành chính Quân sự Thành phố Kyiv thông báo một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã rơi xuống một trạm xăng ở quận Holosiivskyi của thủ đô khi một đoàn máy bay điều khiển từ xa tấn công mạng lưới điện của Thủ đô.

Ngày 14 tháng 9, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rằng Ukraine và Nga đã đồng ý ngừng các cuộc tấn công vào "các mục tiêu năng lượng", trong bối cảnh giá nhiên liệu tiếp tục tăng trên toàn thế giới.

"Ukraine đã đồng ý không tấn công các mục tiêu năng lượng của Nga. Nga cũng đã đồng ý làm như vậy!", Tổng thống Trump nói.

"Sự tăng giá dầu diesel trên toàn thế giới chủ yếu là do chiến tranh Nga-Ukraine, chứ không phải do cuộc chiến Iran."

Bất kể các tuyên bố của Tổng thống Trump, cả Ukraine và Nga đều xác nhận rằng họ không hề hay biết gì về một thỏa thuận như vậy đã được ký kết.

Cuộc tấn công dữ dội vào Thủ đô Kyiv khẳng định rõ ràng các tuyên bố của Tổng thống Trump không đúng sự thật.

Theo Thị trưởng Vitali Klitschko, một trạm xăng khác ở quận Darnytskyi của Kyiv đã bị tấn công vào khoảng 6 giờ sáng giờ địa phương. Một người đã được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch và sau đó đã tử vong tại bệnh viện, theo lời thị trưởng.

Tính đến 10 giờ sáng giờ địa phương, đã có 7 người bị thương trong các vụ tấn công sáng nay tại Kyiv, trong đó 2 người bị thương đang được điều trị tại bệnh viện trong tình trạng nguy kịch, ông Klitschko cho biết.

Tính đến 5 giờ chiều giờ địa phương, sáu người bị thương vẫn đang nằm bệnh viện, ông Klitschko cho biết.

Sáu người bị thương ở quận Solomianskyi của Kyiv, nơi một tòa nhà phi dân cư bị hư hại vào rạng sáng ngày 15 tháng 9, theo báo cáo của Cơ quan Dịch vụ Khẩn cấp Nhà nước Ukraine.

Theo Ủy ban Paralympic Quốc gia Ukraine, cuộc tấn công của Nga cũng gây thiệt hại cho trung tâm dữ liệu của BeMobile, khiến địa điểm của họ tạm thời không thể truy cập được sau cuộc tấn công sáng nay.

Ủy ban cho biết công tác khôi phục khẩn cấp đang được tiến hành và họ đang chờ đối tác UCloud khôi phục lại dịch vụ.

Tờ Kyiv Independent đã liên hệ với UCloud, và công ty này xác nhận rằng trung tâm dữ liệu của họ tại Kyiv đã bị ảnh hưởng bởi cuộc tấn công của Nga.

Công ty không nêu rõ bản chất hay mức độ thiệt hại, nhưng cho biết các địa điểm bị ảnh hưởng dự kiến sẽ hoạt động trở lại trong vòng "vài giờ".

Theo các báo cáo sơ bộ, cũng có các cuộc tấn công tại các kho hàng ở quận Obolonskyi của thành phố, ông Klitschko cho biết.

[Kyiv Independent: Russia launches drone attack on Kyiv, killing at least 1, injuring 12]

5. Lavrov khẳng định phương Tây đã phá hoại thỏa thuận Alaska: "Chúng ta đã có thể sống mà không cần chiến tranh".

Hôm Thứ Tư, 16 Tháng Chín, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov tuyên bố rằng cuộc chiến ở Ukraine lẽ ra đã có thể kết thúc cách đây một năm nếu Hoa Kỳ và Âu Châu không từ bỏ những gì ông mô tả là các thỏa thuận đạt được tại hội nghị thượng đỉnh năm 2025 ở Alaska.

"Nếu người Mỹ không rút khỏi các thỏa thuận ở Anchorage, nếu Âu Châu không phá vỡ các thỏa thuận đó, chúng ta đã không có chiến tranh được một năm rồi", Lavrov nói trong một cuộc thảo luận bàn tròn về cuộc xâm lược Ukraine của Nga.

Theo các hãng thông tấn nhà nước Nga TASS và RIA Novosti cùng trang tin RBC, Lavrov nói: "Đó là một sự thật hiển nhiên, vậy nên mọi người hãy tự rút ra kết luận của riêng mình."

Tuy nhiên, không có thỏa thuận hòa bình nào được công bố sau cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và trùm mafia Vladimir Putin tại Anchorage vào ngày 15 tháng 8 năm 2025. Tổng thống Trump rời hội nghị thượng đỉnh mà không đạt được thỏa thuận ngừng bắn hay chấm dứt chiến tranh. Ukraine không tham gia vào các cuộc đàm phán. Thêm vào đó, các thỏa thuận của các tổng thống Mỹ không phải là chính sách chính phủ chính thức, ràng buộc trừ khi được Thượng viện Mỹ phê chuẩn thành hiệp ước.

Tưởng cũng nên nhắc lại là: Trong thời gian là Giám đốc Tình Báo quốc gia Hoa Kỳ, Tulsi Gabbard đã vẽ ra một bức tranh u ám về tình hình tại Ukraine theo đúng tuyên truyền của Điện Cẩm Linh. Bà ta cho rằng Ukraine đang sụp đổ, kêu gọi chính quyền Trump chấm dứt tức khắc mọi viện trợ quân sự, kể cả viện trợ quân sự gián tiếp thông qua việc bán vũ khí cho các đồng minh của Ukraine; và mô tả việc Hoa Kỳ ép Ukraine phải buông súng đầu hàng Nga là một hành động nhân đạo, cần thiết và cấp bách. Lặp lại các hình ảnh do Tulsi vẽ ra, Tổng thống Trump thường xuyên mô tả Ukraine như các thành phố chết, những ngôi nhà sụp đổ, những ngôi làng đang rực lửa trước sức tấn công vũ bão của một quân đội Nga hùng mạnh nhất thế giới.

Trong bối cảnh đó, Tổng thống Donald Trump đã trải thảm đỏ đón tiếp tên tội phạm chiến tranh bị quốc tế truy nã và đưa ra một đề xuất gây tranh cãi về "trao đổi lãnh thổ" đổi lấy hòa bình, theo đó Ukraine sẽ phải nhượng lại các vùng Donetsk và Luhansk cho Nga.

Tổng thống Trump rời hội nghị thượng đỉnh mà không đạt được thỏa thuận ngừng bắn hay chấm dứt chiến tranh vì Putin đòi hỏi quá nhiều, vượt xa các yêu sách lãnh thổ, đến mức ông Trump hiểu rằng Thượng viện Mỹ khó lòng có thể phê chuẩn thành hiệp ước.

Ngoại trưởng Marco Rubio cho biết đã có những đề xuất và thảo luận ở Alaska nhưng chưa có thỏa thuận chính thức nào.

Tuy nhiên, Lavrov vẫn cáo buộc Washington và các chính phủ Âu Châu kéo dài chiến tranh và nhắc lại tuyên bố của Mạc Tư Khoa rằng Nga chưa bao giờ từ chối đàm phán.

"Chúng tôi chưa bao giờ từ chối đàm phán. Và tất cả các cuộc đàm phán đã diễn ra đều bị gián đoạn không phải do sáng kiến của chúng tôi. Do đó, nếu các đồng nghiệp của chúng tôi sẵn sàng, tôi nghĩ chắc chắn chúng có thể được nối lại. Chúng tôi có điều muốn nói."

Bằng cách gọi đó là "một ý tưởng hay", Điện Cẩm Linh cũng ngầm bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Trump rằng một thỏa thuận ngừng bắn đã được ký kết.

Lavrov cho biết Mạc Tư Khoa sẵn sàng tham gia cả đàm phán song phương và ba bên. Đồng thời, ông nói rằng Nga sẽ không đình chỉ các hoạt động quân sự chống lại Ukraine trong khi các cuộc đàm phán đang diễn ra.

Nga đã phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine vào tháng 2 năm 2022 và tiếp tục xâm lược nhiều vùng của nước này. Mạc Tư Khoa đã nhiều lần bác bỏ lời kêu gọi ngừng bắn vô điều kiện, đồng thời yêu cầu Ukraine nhượng bộ lãnh thổ và hạn chế chính sách quân sự và đối ngoại của Kyiv.

Lavrov khẳng định Nga không thay đổi lập trường kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược và vẫn sẵn sàng tìm kiếm những gì ông gọi là "những thỏa hiệp hợp lý".

Lavrov nói: "Trong khuôn khổ lập trường này, chúng tôi sẵn sàng tìm kiếm những thỏa hiệp hợp lý."

Ông nói thêm rằng Mạc Tư Khoa sẽ không từ bỏ các yêu cầu của mình nhằm ngăn chặn NATO mở rộng sang biên giới Nga và bảo đảm những gì ông mô tả là quyền của người Nga và cư dân nói tiếng Nga ở Ukraine.

Lavrov cũng nhắc lại tuyên bố của Điện Cẩm Linh rằng Nga đang tìm cách "phi phát xít hóa" và "phi quân sự hóa" Ukraine. Mạc Tư Khoa đã sử dụng những thuật ngữ đó để biện minh cho cuộc xâm lược của mình, mặc dù Ukraine là một quốc gia dân chủ có Tổng thống Volodymyr Zelenskiy là người Do Thái.

Tuyên bố của Ngoại trưởng Nga rằng Mạc Tư Khoa luôn ủng hộ các cuộc đàm phán trái ngược với việc nước này từ chối ngừng giao tranh trong các cuộc đàm phán ngoại giao.

Hội nghị thượng đỉnh Anchorage được quảng bá như một cơ hội để thúc đẩy các nỗ lực chấm dứt xung đột. Putin và Tổng thống Trump mô tả cuộc gặp là hiệu quả, nhưng sau đó cả hai đều không tuyên bố ngừng bắn, khuôn khổ hòa bình hay thỏa thuận ràng buộc nào.

[Kyiv Post: ‘We Would Have Been Living Without War’: Lavrov Claims West Derailed Alaska Deal]

6. CẢNH BÁO ĐỎ: Vì sao Putin đầy thù hận SẼ tấn công Anh vì đã ủng hộ Ukraine và những cách thức đáng sợ mà ông ta có thể thực hiện – từ đốt phá đến máy bay điều khiển từ xa.

Giống như dao nóng cắt bơ, hỏa tiễn Storm Shadow đã xuyên thủng lớp vỏ gia cố của tàu ngầm Nga ngay trước khi đầu đạn phát nổ.

Được bắn từ Ukraine vào Crimea bị tạm chiếm năm 2023, vũ khí của Anh-Pháp đã phá hủy pháo đài Rostov-on-Don trị giá 220 triệu bảng Anh, nặng 3.100 tấn.

Đó là một màn phô trương sức mạnh quân sự bài bản, chứng minh rằng hỏa tiễn hành trình có thể giúp phá vỡ thế bế tắc đẫm máu trên chiến trường Ukraine.

Vì vậy, khi Andy Burnham trao cho Tổng thống Volodymyr Zelenskiy bản thiết kế bí mật của Storm Shadow gần đây, Nga đã phản ứng dữ dội - và đe dọa bằng những lời lẽ khoa trương.

Andrei Fedorov, cựu thứ trưởng ngoại giao Nga và là phát ngôn nhân của Điện Cẩm Linh, đã đưa ra lời cảnh báo đầy ẩn ý rằng Anh có thể phải đối mặt với "phản ứng bán quân sự" từ "các nguồn không xác định".

Vậy Nga có thể trả thù nước Anh bằng cách nào? Và những "nguồn tin không xác định" bí ẩn mà Fedorov tuyên bố có thể thực hiện cuộc tấn công như vậy là ai?

Michael Clarke, Giáo sư thỉnh giảng về Nghiên cứu Quốc phòng tại King's College Luân Đôn đã đưa ra các câu trả lời cho những câu hỏi trên với Sky News, đồng thời cảnh báo rằng việc Putin ra lệnh trả đũa Anh vì sự ủng hộ liên tục của nước này đối với Ukraine là điều "không thể tránh khỏi".

Ông cho biết: "Câu hỏi đặt ra là, ‘Chúng ta sẽ tiếp tục chọc giận con gấu đến bao giờ trước khi nó cắn?’"

"Một cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng quốc phòng và an ninh của Vương quốc Anh là điều không thể tránh khỏi, dựa trên sự ủng hộ công khai của chúng ta dành cho Ukraine."

"Nga sẽ muốn thể hiện quan điểm của mình bằng hành động hơn là lời nói. Đó có thể là một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa hoặc một vụ đốt phá."

"Có những nhóm khủng bố ngầm của Nga ở nước này có thể làm cả hai việc đó."

Cuộc đối đầu căng thẳng với Putin là một thử thách cam go đối với Thủ tướng mới của Anh, một người còn non kinh nghiệm trong lĩnh vực chính sách đối ngoại.

Lời hứa của Thủ tướng Burnham về việc trao bản thiết kế mật của hỏa tiễn Storm Shadow sẽ cho phép Ukraine tự chế tạo loại hỏa tiễn này trên lãnh thổ của họ.

Phát ngôn nhân Điện Cẩm Linh Dmitry Peskov đã đáp trả bằng cách khẳng định Nga coi động thái này là "vô cùng tiêu cực".

Ông nói thêm: "Anh đang một cách có hệ thống và thường xuyên đổ thêm dầu vào lửa và một cách có hệ thống và thường xuyên âm mưu ngăn chặn bất kỳ tiến triển nào trong tiến trình hòa bình."

Thủ tướng Burnham đã giữ vững lập trường của mình, đáp lại: "Ai đã châm lửa? Đó mới là câu hỏi, phải không?" Tại Kyiv nhân ngày Quốc khánh 24 tháng 8, Thủ tướng Burnham đã thể hiện thêm sự kiên định của mình khi chơi bản nhạc Rusholme Ruffians của ban nhạc The Smiths trên đàn guitar trước sự chứng kiến của các binh sĩ Ukraine.

Giáo sư Clarke cho biết đã có thêm bằng chứng về sự xấu đi trong quan hệ Anh-Nga đã xuất hiện vào cuối tháng trước khi có thông tin xác nhận rằng Điện Cẩm Linh đã rút đại sứ của mình tại Luân Đôn.

[The Sun: RED ALERT Why vengeful Putin WILL attack Britain for backing Ukraine & the terrifying ways he could do it – from arson to drones]

7. Nghi phạm gián điệp Nga đứng sau vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa ở Leipzig.

Theo hai quan chức an ninh cao cấp của Đức và các tài liệu mật mà tờ Welt thu được, các nhà chức trách an ninh Đức đã xác định với độ chính xác cao một công dân Belarus và một công dân Nga có liên hệ với các cơ quan tình báo quân sự Nga và Belarus là những nghi phạm chính trong vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa vào phi trường Leipzig-Halle hồi tháng 8.

Welt đã xem xét các hồ sơ điều tra mật chưa từng được công bố trước đây và đã phỏng vấn bốn quan chức an ninh cao cấp từ các cơ quan liên bang và tiểu bang khác nhau. Các quan chức này, giống như những người khác được trích dẫn trong bài báo, được giấu tên vì họ không được phép phát ngôn công khai.

Các cơ quan của Đức tham gia vào cuộc điều tra bao gồm Văn phòng Liên bang về Bảo vệ Hiến pháp, Văn phòng Cảnh sát Hình sự Liên bang, Cơ quan Tình báo Liên bang và các cơ quan khác của Đức.

Do nghi ngờ có liên hệ với các vụ phá hoại khác ở Âu Châu, nhà chức trách Đức đang phối hợp với các nhà điều tra ở Lithuania, Ba Lan, Latvia và Phần Lan. Theo các tài liệu mật, họ cũng đang liên lạc với Cục Điều tra Liên bang Mỹ, gọi tắt là FBI.

Tờ Welt không nêu tên các nghi phạm theo luật bảo mật thông tin của Đức. Dựa trên bằng chứng chống lại họ, Ngoại trưởng Johann Wadephul và Bộ trưởng Nội vụ Alexander Dobrindt đã quy trách nhiệm cho Nga về vụ tấn công trong một cuộc họp báo chung vào ngày 1 tháng 9. Nga đã phủ nhận mọi sự liên quan.

Sân bay Leipzig-Halle đã bị tấn công bởi một máy bay điều khiển từ xa mang chất nổ vào tối ngày 4 tháng 8. Chiếc máy bay điều khiển từ xa này được phát hiện gần một máy bay vận tải Antonov của Ukraine và đã được vô hiệu hóa an toàn. Các nhà điều tra đã tìm thấy mảnh vỡ từ hai máy bay điều khiển từ xa khác gần phi trường.

Theo các tài liệu mật mà WELT đã xem xét và một trong những quan chức an ninh cao cấp, các nhà chức trách an ninh Đức tin rằng nghi phạm người Nga có liên hệ với GRU, cơ quan tình báo quân sự của Nga, và chịu trách nhiệm lập kế hoạch và hậu cần cho vụ tấn công.

Nghi phạm người Nga đã nhập cảnh vào Đức qua Thổ Nhĩ Kỳ tại phi trường Berlin-Brandenburg. Sau đó, hắn rời phi trường này để đến Serbia và hiện đã quay trở lại Nga. Các nhà điều tra đã biết vào thời điểm hắn nhập cảnh rằng người Nga này có liên hệ với GRU (Cơ quan Tình báo Quân đội Đức). Tuy nhiên, theo một quan chức an ninh cao cấp của Đức, hắn không bị theo dõi sau khi đến nơi vì các cơ quan chức năng có nguồn lực hạn chế và không cho rằng hắn đang lên kế hoạch cho một cuộc tấn công sắp xảy ra.

Nghi phạm người Belarus đã nhập cảnh vào Khu vực Schengen, khu vực đi lại tự do biên giới bao gồm 29 quốc gia Âu Châu, qua Latvia vào ngày 28 tháng 7, khoảng một tuần trước vụ việc. Giới chức trách tin rằng hắn là một "đặc vụ dùng một lần" - một tên tội phạm được thuê để thực hiện các hành vi phá hoại. Theo một quan chức an ninh liên bang cao cấp của Đức, công dân Nga này được tường trình đã tổ chức việc chế tạo chất nổ và chỉ đạo nghi phạm người Belarus.

Theo một quan chức an ninh cao cấp của Đức, khoảng 1,8 kg chất nổ Semtex dự kiến sẽ được sử dụng trên cả ba máy bay điều khiển từ xa — tương đương khoảng 600 gram mỗi chiếc. Chiếc máy bay Antonov, mục tiêu của vụ tấn công, được tiếp nhiên liệu với khoảng 25.000 lít nhiên liệu phản lực.

Hai quan chức an ninh cao cấp, cả hai đều trực tiếp tham gia điều tra, cho biết nếu khối thuốc nổ phát nổ, nó sẽ gây ra một vụ nổ lớn và phá hủy một phần phi trường. Đoạn phim camera giám sát chưa từng được công bố trước đây do Welt thu được cho thấy máy bay điều khiển từ xa nằm ngay cạnh máy bay Antonov. Theo nhà chức trách, chất nổ được giấu bên trong một hộp thực phẩm. Vụ nổ không xảy ra do kíp nổ bị gãy.

Một ngày sau vụ tấn công bất thành, cảnh sát tìm thấy một cấu trúc ăng-ten được cố định bằng băng dính trên một cây gần phi trường. Theo các tài liệu mật, người ta tin rằng cấu trúc này được sử dụng để điều khiển máy bay điều khiển từ xa. Trên cấu trúc đó, các kỹ thuật viên pháp y tìm thấy tàn tích của một chiếc găng tay có dấu vết ADN đã được ghi nhận trước đó ở Phần Lan và Lithuania. Theo một trong những quan chức an ninh cao cấp, nghi phạm người Belarus có tiền án ở những quốc gia đó (ví dụ, ở Phần Lan, hắn bị buộc tội trộm cắp, cùng với các tội danh khác).

Theo một quan chức an ninh cao cấp, nhà chức trách Ba Lan cũng tin rằng nghi phạm có liên quan đến vụ cháy tại một cửa hàng vật liệu xây dựng ở thành phố Łódź vào mùa hè năm 2024. (Văn phòng công tố Łódź cũng đã xếp vụ việc này vào loại phá hoại.) Các nhà điều tra Đức xem việc nghi phạm cũng có liên quan đến vụ tấn công Leipzig là bằng chứng thêm về sự can thiệp của Nga.

Theo một quan chức an ninh cao cấp của Đức, chất nổ được sử dụng ở Leipzig đã được vận chuyển đến Đức qua Bulgaria và Serbia. Các nhà điều tra tin rằng chúng được vận chuyển trong các khoang bí mật trên xe tải và sau đó được cất giấu dưới lòng đất. Cảnh sát đã tìm thấy một số địa điểm khả nghi để cất giấu chất nổ gần phi trường Leipzig sau khi phân tích dữ liệu từ một chiếc xe thuê mà các nghi phạm đã sử dụng.

Các tài liệu mật của cảnh sát cũng đề cập đến một tấm bê tông có hai tay cầm được phát hiện gần một cây cầu dành cho người đi bộ ở phía nam phi trường, thuộc thành phố Schkeuditz. Giới chức trách tin rằng nó đã dẫn đến một địa điểm cất giấu bí mật. Ngay sau đó, cảnh sát tìm thấy một nơi ẩn náu khả nghi khác ở phía bắc cây cầu; cả hai địa điểm cất giấu đều trống rỗng. Các nhà điều tra cũng tìm thấy một nơi ẩn náu ở thành phố Merseburg, thuộc khu vực Halle-Leipzig. Theo các tài liệu của cảnh sát, nghi phạm người Nga có thể đã tạm thời cất giữ chất nổ ở đó.

Việc kiểm tra chiếc máy bay điều khiển từ xa hạ cánh xuống đường băng phi trường cho thấy đó là một thiết bị tự chế được làm từ các bộ phận dễ kiếm, một số trong đó được sản xuất bằng máy in 3D. Bốn động cơ là nhãn hiệu của Trung Quốc, cũng được bán tại các cửa hàng trực tuyến của Nga chuyên về "công nghệ chiến đấu". Theo các tài liệu mật của cảnh sát, lon thực phẩm chứa đầy Semtex được gắn vào máy bay điều khiển từ xa bằng một giá đỡ.

[CBSNews: Suspected Russian spy behind drone attack in Leipzig]

8. Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết Nga đã chịu hơn 300.000 thương vong tại Ukraine kể từ đầu năm 2026.

Lực lượng Nga đã mất 301.030 binh sĩ thiệt mạng và bị thương kể từ đầu năm 2026. Chuẩn tướng Oleksii Hromov, phát ngôn nhân Bộ Tổng tham mưu Ukraine, cho biết như trên trong cuộc họp báo hôm Thứ Tư, 16 Tháng Chín.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi chiến dịch mùa hè trên chiến trường Ukraine kết thúc, với tổn thất của Nga vượt quá 1,5 triệu người kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện.

Chuẩn tướng Oleksii Hromov cho biết gần 300.000 thương vong tương đương với quân số của 150 trung đoàn bộ binh cơ giới, dựa trên ước tính khoảng 2.000 binh sĩ mỗi trung đoàn.

"Những tổn thất đáng kể của địch là kết quả của các chiến dịch tác chiến hiệu quả do tất cả các thành phần của Lực lượng Quốc phòng Ukraine thực hiện",ông nói.

Kể từ đầu năm 2026, lực lượng Nga đã chịu tổn thất khoảng 30.000 thương vong mỗi tháng tại Ukraine.

Theo Chuẩn tướng Oleksii Hromov, tổn thất lớn nhất được ghi nhận trong ba tháng hè, khi Nga chịu 124.170 thương vong về quân sự. Riêng trong tháng 7, con số này đã tăng vọt lên mức kỷ lục 42.860 – mức thương vong hàng tháng cao nhất kể từ khi chiến tranh toàn diện bắt đầu. Trong tháng 8, con số hàng tháng lại vượt quá 40.000.

"Số thương vong cao của Nga chủ yếu liên quan đến chiến thuật của họ. Họ tiếp tục triển khai bộ binh - thường là theo từng đợt biển người nhằm mục đích áp đảo các vị trí của chúng ta bằng số lượng lớn. Đồng thời, nhân lực vẫn là một trong những công cụ chính để họ đạt được kết quả," Chuẩn tướng Oleksii Hromov nói.

[Kyiv Independent: Russia suffers over 300,000 military losses in Ukraine since start of 2026, General Staff says]

9. Theo hãng truyền thông nhà nước Ả Rập Xê Út, thái tử Ả Rập Xê Út đã gặp gỡ chỉ huy CENTCOM của Mỹ.

Theo hãng thông tấn Saudi Arabia, gọi tắt là SPA, Thái tử kiêm Thủ tướng Mohammed bin Salman đã gặp Đô đốc Brad Cooper, nhà lãnh đạo Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ, tại Jeddah hôm thứ Hai.

Theo hãng tin SPA, cuộc gặp đã thảo luận về quan hệ song phương giữa Ả Rập Xê Út và Hoa Kỳ, cũng như những diễn biến mới nhất trong khu vực.

Bộ trưởng Nhà nước kiêm cố vấn an ninh quốc gia Ả Rập Xê Út, Musaed bin Mohammed Al-Aiban, cũng tham dự cuộc họp.

Cuộc gặp diễn ra vài ngày sau khi một đường ống dẫn dầu quan trọng của Ả Rập Xê Út bị tấn công, mà vương quốc này đổ lỗi cho các nhóm dân quân được Iran hậu thuẫn ở Iraq.

Theo Axios, tuần trước Bin Salman đã yêu cầu Tổng thống Trump ném bom các vị trí do lực lượng Houthi được Iran hậu thuẫn nắm giữ, nhưng Tổng thống Trump đã từ chối.

[CBSNews: Saudi crown prince meets U.S. CENTCOM chief, says Saudi state media outlet]

10. Kyiv cho biết Nga đang sử dụng mạng LTE và các trạm chuyển tiếp của Belarus để thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa quy mô lớn vào Ukraine.

Ngày 14 tháng 9, hai quan chức Ukraine cho biết Nga có thể đang sử dụng mạng LTE (Long Term Evolution) của Belarus, cũng như mạng lưới các trạm tiếp sóng trên lãnh thổ Belarus, để giúp cung cấp tín hiệu ổn định cho các máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed của Nga được sử dụng trong các cuộc tấn công quy mô lớn vào Ukraine.

Thông tin này được tiết lộ hai ngày sau khi Nga điều động hàng trăm máy bay điều khiển từ xa chạy bằng xăng, bay dọc theo biên giới phía bắc của Ukraine, trong một cuộc tấn công quy mô lớn hiếm hoi nhắm vào các khu vực ở miền tây Ukraine vào ngày 12 tháng 9.

Phát biểu trên chương trình phát sóng trực tiếp của Radio NV, Cố vấn Tổng thống Serhii "Flash" Beskretnov cho biết đường bay của các máy bay điều khiển từ xa được sử dụng trong vụ tấn công cho thấy chúng có thể đã sử dụng mạng di động nội địa cho các cuộc tấn công xuyên biên giới.

"Nếu chúng ta quan sát sự di chuyển của các máy bay ‘Shahed’ chạy bằng động cơ phản lực và máy bay ‘Shahed’ thông thường, chúng thường bay sát biên giới với Belarus," ông nói.

"Tôi đi đến kết luận rằng ‘các Shahed’ có thể có kết nối với mạng LTE thương mại của Belarus."

Cũng trong ngày hôm đó, phát ngôn nhân của Cơ quan Biên phòng Nhà nước, Andrii Demchenko, đã nói với truyền hình Ukraine rằng Nga cũng đang sử dụng các trạm tiếp sóng vô tuyến trong các cuộc tấn công.

Ông Demchenko cho biết: "Các cuộc không kích nhắm vào các tỉnh Rivne, Volyn và Lviv thực chất cũng được thực hiện từ lãnh thổ Belarus."

"Các phương tiện không quân do Nga triển khai được nhận tín hiệu thông qua các trạm tiếp sóng cũng được đặt chính xác trên lãnh thổ quốc gia này."

Việc đặt các trạm tiếp sóng như vậy trên lãnh thổ Belarus đã gây ra căng thẳng giữa Kyiv và Minsk, với việc Tổng thống Volodymyr Zelenskiy hồi mùa hè đã đưa ra tối hậu thư chính thức yêu cầu dỡ bỏ thiết bị này.

Vào thời điểm đó, Tổng thống Zelenskiy tuyên bố rằng người đồng cấp Alexander Lukashenko đã đồng ý gỡ bỏ các trạm tiếp sóng.

Do không có quyền truy cập vào các công nghệ như Starlink của SpaceX, Nga thường xuyên sử dụng kết hợp các công nghệ vô tuyến tiên tiến để duy trì liên lạc với các máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed trong các cuộc tấn công quy mô lớn vào Ukraine.

[Kyiv Independent: Russia using Belarusian LTE networks, relay stations for mass drone attacks on Ukraine, Kyiv says]

11. Tổng Thư Ký Mark Rutte, lãnh đạo NATO, cho biết các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa gần biên giới Ba Lan cho thấy sự "tuyệt vọng" của Putin.

Ngày 14 tháng 9, Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga "gần lãnh thổ NATO" thể hiện "sự tuyệt vọng" của Putin.

Phát biểu tại trụ sở NATO ở Brussels, Rutte nói rằng Nga "ngày càng trở nên liều lĩnh khi tiếp tục cuộc chiến tranh tàn khốc chống lại Ukraine."

Ngày 13 tháng 9, Nga đã phóng máy bay điều khiển từ xa vào miền tây Ukraine, tấn công một trạm xăng gần cửa ải biên giới Yahodyn-Dorohusk và một đoàn tàu chở khách Kyiv-Warsaw chỉ cách biên giới Ba Lan 2 km.

Cuộc tấn công đã đưa chiến tranh đến gần biên giới Ba Lan một cách bất thường, với nhiều cuộc tấn công được báo cáo ở tỉnh Volyn, tây bắc Ukraine, gần cửa ải biên giới Yahodyn–Dorohusk.

Sau đó, có thông tin cho rằng cựu Thủ tướng Anh Boris Johnson và các quan chức Âu Châu khác đã ở trên chuyến tàu phía trước chuyến tàu bị tấn công và đã đi qua cửa ải biên giới ngay trước đó.

Bộ trưởng Nội vụ Ba Lan Marcin Kierwinski cho biết Ba Lan đang giải quyết vụ việc với "mức độ nghiêm chỉnh tối đa".

Theo đài phát thanh Ba Lan, Thủ tướng Donald Tusk cho biết Ba Lan muốn thay đổi cách tổ chức giao thông tại cửa ải biên giới để đẩy nhanh tốc độ và tránh tình trạng ùn tắc giao thông.

"Điều quan trọng là không được tập trung quá nhiều xe chở nhiên liệu gần các cửa ải biên giới. Tôi không cần phải giải thích điều này, nhưng đây chính là điểm yếu của chúng ta", ông Tusk nói thêm.

[Kyiv Independent: Drone strikes near Polish border show Putin's 'desperation,' NATO's Rutte says]

12. Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU kêu gọi cư dân các vùng lãnh thổ Ukraine bị tạm chiếm không tham gia cuộc bầu cử tháng 9 của Nga.

Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU đã kêu gọi cư dân các khu vực bị tạm chiếm của Ukraine không tham gia cuộc bầu cử Duma Quốc gia sắp tới của Nga, dự kiến diễn ra từ ngày 18 đến 20 tháng 9.

Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU cho biết hôm thứ Hai, ngày 14 tháng 9, Điện Cẩm Linh có thể sử dụng cuộc bỏ phiếu này để hợp pháp hóa quyền kiểm soát của mình đối với lãnh thổ Ukraine. Theo chỉ đạo của các quan chức do Mạc Tư Khoa bổ nhiệm, các nhà quản lý xâm lược của Nga được tường trình đang chuẩn bị cái mà cơ quan này mô tả là một "cuộc trưng cầu dân ý giả mạo" khác.

"Cơ quan An ninh một lần nữa kêu gọi cư dân của các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm tạm thời ở Ukraine không trở thành công cụ của chế độ Cẩm Linh trong cuộc chiến chống lại nhà nước chúng ta", cơ quan này viết trong một tuyên bố đăng trên địa điểm chính thức của mình.

Có thể bị phạt tù đến 10 năm vì tội bỏ phiếu.

Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU cho biết việc tổ chức hoặc quảng bá bầu cử Nga có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự theo luật pháp Ukraine.

Phần 5 Điều 111-1 của Bộ luật Hình sự Ukraine áp dụng cho việc tổ chức, tiến hành hoặc tham gia tổ chức các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý bất hợp pháp trên lãnh thổ bị tạm chiếm, cũng như công khai kêu gọi các hành động đó.

Hình phạt bao gồm án tù lên đến 10 năm và tịch thu tài sản bổ sung.

Theo cơ quan này, chính quyền Nga đã từng sử dụng các phương pháp tương tự trong các chiến dịch bỏ phiếu trước đó, đặc biệt là các cuộc trưng cầu dân ý giả mạo vào tháng 9 năm 2022 tại các khu vực bị tạm chiếm thuộc Donetsk, Luhansk, Zaporizhzhia và Kherson.

Theo các nguồn tin, chính quyền xâm lược của Nga đã tuyển mộ cư dân vào các ủy ban bầu cử và đội vận động tranh cử, cũng như tổ chức các sự kiện công cộng nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân.

Sau đó, Mạc Tư Khoa tuyên bố sáp nhập các vùng lãnh thổ sau cuộc bỏ phiếu, điều mà Ukraine và các đồng minh bác bỏ là bất hợp pháp và vô hiệu.

Theo SBU, các cuộc "bầu cử giả" khác đã được tổ chức cho các cơ quan khu vực tại các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm vào năm 2023, đồng thời lưu ý rằng các quan chức xâm lược đã lôi kéo người dân địa phương vào các ủy ban bầu cử, kêu gọi người dân bỏ phiếu theo hướng có lợi cho Điện Cẩm Linh.

Sybiha gọi cuộc bỏ phiếu là một ‘trò hề’.

Trong một bài đăng trên X ngày 7 tháng 9, Ngoại trưởng Andrii Sybiha đã lên án cuộc bầu cử dự kiến, gọi quá trình này là một trò hề chứ không phải là một cuộc bầu cử lập pháp.

"[Tổng thống Nga Vladimir] Putin đã cai trị nước Nga trong 26 năm – lâu hơn cả Joseph Stalin. Trong thời gian này, chế độ của ông ta đã từng bước phá bỏ bất cứ điều gì giống như dân chủ," Sybiha nói, lập luận rằng hệ thống chính trị của Nga không mang lại cho cử tri "sự lựa chọn thực sự" do những hạn chế về tự do ngôn luận, bao gồm cả việc bỏ tù hoặc giết hại các nhân vật đối lập.

Ông cũng chỉ ra việc thiếu vắng các quan sát viên độc lập từ Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu, gọi tắt là OSCE.

"Đây không phải là một cuộc bầu cử," Sybiha nói. "Đây là một trò hề do chế độ Putin dàn dựng để tạo dựng tính chính danh trong nước, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược và huy động thêm nhiều người làm bia đỡ đạn."

Kế hoạch của Nga tổ chức cuộc bỏ phiếu ở Crimea và các khu vực bị tạm chiếm khác của Ukraine cũng vi phạm luật pháp quốc tế.

Kyiv liên tục kêu gọi các chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế không công nhận các cuộc bầu cử do Nga tổ chức trên lãnh thổ Ukraine đang bị Nga xâm lược.

Nga đã cấm đảng tự do duy nhất của mình tham gia.

Ngày 10 tháng 8, Nga đã cấm đảng tự do duy nhất được ghi danh chính thức, Yabloko, tham gia cuộc bầu cử Duma Quốc gia sắp tới.

"Đảng Yabloko toàn những kẻ phản bội. Đây là những người làm việc cho phương Tây và có tư tưởng phương Tây", lãnh đạo đảng Rodina theo chủ nghĩa dân tộc, Alexei Zhuravlyov – người đã đệ đơn kiện Yabloko vì cổ vũ "chủ nghĩa cực đoan" – nói với các phóng viên vào ngày 7 tháng 8.

Việc dỡ bỏ nó phản ánh một mô hình đàn áp chính trị rộng lớn hơn, hầu như không để lại chỗ cho sự phản đối của công chúng đối với cuộc chiến, bất chấp việc thúc đẩy một lệnh ngừng bắn ngay lập tức nhằm giữ nguyên phần lớn chiến tuyến hiện tại.

[Kyiv Post: SBU Urges Residents of Occupied Ukrainian Territories Not to Participate in Russia’s September Elections]

13. Iran cho biết Ả Rập Xê Út đã yêu cầu hoãn cuộc họp khu vực về eo biển Hormuz.

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Iran, Esmaeil Baghaei, cho biết hôm thứ Hai rằng Ả Rập Xê Út đã yêu cầu hủy bỏ cuộc họp dự kiến diễn ra vào thứ Hai giữa các phái đoàn Iran, Oman và các nước khu vực khác để thảo luận về việc kiểm soát eo biển Hormuz, "ít nhất là trong thời điểm hiện tại".

Ông Baghaei gọi cuộc gặp gỡ, vốn dự kiến được Oman đăng cai tại Muscat (nay đã bị hoãn), là một "cơ hội thích hợp" để khôi phục an ninh trong khu vực.

Ông cho biết một thỏa thuận giữa Iran và Oman về eo biển Hormuz đã được hoàn tất và sẽ được công bố sau.

Ả Rập Xê Út đã đệ trình các sửa đổi đối với thỏa thuận, viện dẫn những lo ngại rằng thỏa thuận này có thể gây ra những hậu quả lâu dài đối với eo biển Hormuz, ảnh hưởng tiêu cực đến các quốc gia khác thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, một quan chức khu vực quen thuộc với vấn đề này nói với hãng tin AP.

[CBSNews: Iran says Saudi Arabia requested postponement of regional meeting on Strait of Hormuz]
 
Khi nào chúng ta có thể biết Việt Nam có tân Hồng Y? Cử chỉ quá sức báng bổ của Thượng Phụ Kirill
VietCatholic Media
15:39 16/09/2026




1. Khi nào chúng ta có thể biết Việt Nam có tân Hồng Y hay không trong công nghị tấn phong Hồng Y sắp tới?

Ngày chính thức tổ chức Công Nghị Hồng Y tiếp theo vẫn chưa được công bố.

Sau phiên họp đặc biệt gần đây nhất được tổ chức vào từ 26 đến 27 tháng 6 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tuyên bố trong lời bế mạc rằng ngài sẽ công bố ngày tổ chức phiên họp tiếp theo vào cuối năm nay. Cho nên, thời điểm sớm nhất chúng ta có thể biết Việt Nam có tân Hồng Y hay không là vào cuối năm nay.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bày tỏ mong muốn mạnh mẽ thiết lập một mô hình nhất quán là triệu tập Hồng Y đoàn họp mặt để thảo luận ít nhất một hoặc hai lần một năm. Những tin đồn và dự đoán dai dẳng từ Vatican cho thấy Công Nghị Hồng Y tiếp theo có thể diễn ra vào khoảng tháng Hai năm 2027.

Vì một số lượng đáng kể các Hồng Y cử tri sẽ quá tuổi 80, nghĩa là mất quyền bỏ phiếu trong Cơ Mật Viện bầu Giáo Hoàng, vào cuối năm 2027, các nhà phân tích của Vatican suy đoán rằng cuộc họp sắp tới có thể đóng vai trò là một "hội nghị thảo luận" về các tân Hồng Y hoặc thậm chí có khả năng là dịp mà Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ tấn phong các tân Hồng Y đầu tiên.

Trong trường hợp Đức Giáo Hoàng Lêô quyết định tấn phong Hồng Y vào Tháng Hai, ngài sẽ công bố danh sách các Tân Hồng Y vào Tháng Giêng, vì việc tấn phong Tân Hồng Y thường được công bố ít nhất một tháng trước công nghị để các vị tân Hồng Y có thời gian chuẩn bị.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã để lại một Hồng Y đoàn khá lớn. Khi ngài qua đời, có 135 Hồng Y có thể bỏ phiếu trong Cơ Mật Viện bầu Giáo Hoàng, nhiều hơn 15 vị so với giới hạn 120 do Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục thiết lập. Hiện nay, có 117 Hồng Y cử tri, hoặc 118 nếu tính cả Hồng Y Angelo Becciu, người mà tình trạng pháp lý vẫn chưa được làm rõ. Năm 2027, sẽ có thêm 13 Hồng Y bước sang tuổi 80 và do đó sẽ không còn đủ điều kiện tham gia Cơ Mật Viện bầu Đức Giáo Hoàng nữa. Kết quả là, vào cuối năm 2027, có thể sẽ chỉ còn 104 Hồng Y cử tri, và Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ có 16 vị trí để bổ nhiệm thêm Hồng Y mới, nếu ngài muốn tuân thủ giới hạn do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập.

Không giống như các vị Giáo Hoàng khác, những người luôn tổ chức công nghị đầu tiên để tấn phong Hồng Y, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã quyết định sử dụng các cuộc họp đầu tiên của ngài chủ yếu làm nơi gặp gỡ các Hồng Y, những dịp để thảo luận về hiện trạng và tương lai của Giáo hội.

Bộ Giáo luật quy định hai loại công nghị: công nghị bình thường và công nghị ngoại thường. Công nghị ngoại thường được tổ chức trong những trường hợp đặc biệt, và tất cả các Hồng Y đều được triệu tập đến công nghị ngoại thường. Trái lại, công nghị bình thường được tổ chức khi Đức Giáo Hoàng cần tham khảo ý kiến của các Hồng Y về một số vấn đề quan trọng nhưng thường lệ hoặc để thực hiện các nghi lễ trọng thể.

Công nghị ngoại thường có thể bao gồm việc tấn phong tân Hồng Y, nhưng cũng có thể là một công nghị để thảo luận. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV muốn biến việc triệu tập công nghị ngoại thường để thảo luận thành một sự kiện hai năm một lần. Công nghị đầu tiên thuộc loại này đã được triệu tập trong 2 ngày 7 và 8 Tháng Giêng năm 2026, và công nghị tiếp theo diễn ra trong 2 ngày 26 và 27 tháng 6 vừa qua.

Cho đến nay Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không thành lập "Hội đồng Hồng Y" như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã làm.

Hội đồng (được gọi là "C9" vì gồm chín Hồng Y) là một dạng ban cố vấn cho Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không đưa hội đồng này vào trong thông điệp Praedicate Evangelium, và do đó, nó không được coi là một cơ quan của Giáo triều Rôma hay một cơ quan thường trực. Đó là một nhóm cố vấn theo ý muốn của Đức Giáo Hoàng.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tỏ ra trọng truyền thống hơn là vị tiền nhiệm của ngài, và có lẽ đã quyết định triệu tập toàn thể các Hồng Y để tham vấn hơn là chỉ một nhóm nhỏ.


Source:National Catholic Register



2. Quá sức báng bổ: Thượng Phụ Kirill gửi hài cốt chiến binh thời Trung cổ đến mặt trận Ukraine để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân xâm lược Nga

Trong một cử chỉ hết sức báng bổ Giáo hội Chính thống Nga đã gửi một mảnh xương bàn tay phải của một vị hoàng tử chiến binh thời trung cổ cho quân đội Nga ở Ukraine bị tạm chiếm, nói rằng di vật này sẽ củng cố tinh thần của họ.

Tuyên bố của Thượng Phụ Kirill đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt của thế giới Chính Thống Giáo. Các quan sát viên nhấn mạnh rằng tuyên bố của Kirill xúc phạm đến danh thánh Chúa khi cho rằng Chúa ủng hộ một bọn xâm lược tàn bạo trong một cuộc chiến phi nghĩa đã gây ra con số thương vong lên đến hơn 2 triệu người và thiêu đốt hết ngàn tỷ này đến ngàn tỷ khác.

Theo Kirill, di hài của Đại Hoàng tử Dmitry Donskoy đã được phát hiện vào mùa hè năm nay trong quá trình trùng tu Nhà thờ Tổng lãnh thiên thần ở Mạc Tư Khoa, bên trong Điện Cẩm Linh.

Donskoy, người qua đời năm 1389, được những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga tôn kính vì đã đánh bại quân đội của Hãn quốc Kim Trâm trong trận Kulikovo năm 1380.

Putin đã đích thân thị sát những di vật này vào tháng 8, mô tả việc phát hiện ra chúng là "hoàn toàn độc đáo và kỳ diệu" và nói rằng điều đó "củng cố nền tảng của lịch sử Nga".

Tên của Donskoy được đặt cho một đoàn xe tăng Liên Xô do Giáo hội tài trợ trong Thế chiến II. Giáo hội Chính thống Nga đã phong thánh cho ông vào năm 1988.

Các nhà phê bình cáo buộc Thượng Phụ Kirill đã vi phạm nghi thức tôn giáo khi mở mộ. Mặc dù nơi chôn cất của Donskoy từ lâu đã được biết đến rộng rãi, nhưng không có nỗ lực nào được thực hiện để khai quật và tôn kính hài cốt của ông trong gần bốn thập niên kể từ khi ông được phong thánh.

Bất chấp những phản đối, Thượng Phụ Kirill đã lấy một mảnh xương từ bàn tay phải của Donskoy và đặt nó trong một hộp đựng thánh tích được trang trí công phu, được bảo vệ bởi kính cường lực.

Hôm thứ Ba, ngày 8 tháng 9, các giáo sĩ cao cấp của Giáo hội Chính thống giáo đã tổ chức một buổi lễ cầu nguyện xung quanh thánh tích tại đài tưởng niệm chiến tranh Saur-Mogila ở tỉnh Donetsk bị tạm chiếm. Các đại diện quân đội Nga và các quan chức do Điện Cẩm Linh bổ nhiệm cũng tham dự.

Di vật này giờ đây sẽ được trưng bày cho các đơn vị chiến đấu của Nga dọc theo chiến tuyến dài hơn 1.000 km.

"Chính bàn tay phải mà ông ấy đã dùng để vung kiếm... đã được gửi ra tiền tuyến," Thượng Phụ Kirill cho biết, khẳng định rằng thánh tích này sẽ củng cố tinh thần của các binh sĩ.

Thượng Phụ Kirill gọi Donskoy là "vị chỉ huy thánh thiện" của quân đội Nga và nói rằng ông sẽ "sát cánh cùng" quân đội Nga.

Giáo hội Chính thống Nga đã mạnh mẽ ủng hộ hành động gây hấn của Điện Cẩm Linh, cử các linh mục đến các đơn vị quân đội, ra lệnh cầu nguyện cho chiến thắng của Nga và miêu tả cuộc chiến chống Ukraine như một cuộc đấu tranh tôn giáo.

Đầu năm nay, các thánh tích của Alexander Nevsky, một vị hoàng tử thời trung cổ khác được Thượng Phụ Kirill và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga tôn kính, cũng đã được gửi ra mặt trận.



3. Giám mục Kharkiv gặp Đức Giáo Hoàng: Phải làm mọi cách để chấm dứt chiến tranh.

Giám mục Pavlo Honcharuk, của giáo phận Kharkiv-Zaporizhia, một trong những giáo phận Ukraine bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc xung đột, đã gặp gỡ Đức Giáo Hoàng vào ngày 11 tháng 9 tại Vatican và cảm ơn ngài về sự hỗ trợ, lời cầu nguyện và sự quan tâm.

Trao đổi với Vatican News ngay sau buổi tiếp kiến riêng với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tại Vatican hôm thứ Sáu, Giám mục Pavlo Honcharuk của Kharkiv-Zaporizhzhia ở Ukraine cho biết ngài vô cùng an ủi trước những lời bảo đảm của Đức Giáo Hoàng rằng mọi việc đang được thực hiện để "chấm dứt cuộc chiến này".

Tên của hai thành phố Ukraine này đã trở nên quen thuộc một cách đáng buồn trong các bản tin trên khắp thế giới, bởi vì chúng nằm trong số những thành phố gần biên giới Nga nhất và do đó là những mục tiêu bị nhắm đến nặng nề nhất bởi bạo lực và sự tàn bạo của một cuộc xung đột dường như không có hồi kết.

Đức Cha Honcharuk mô tả Kharkiv như một "ngọn lửa", "tâm điểm" của cuộc chiến.

"Đức Giáo Hoàng đã đón tiếp chúng tôi với tấm lòng rộng mở, và toàn thể những người được đón tiếp đều rất nồng hậu," vị Giám mục nói với Vatican News.

Cùng tham dự buổi gặp mặt kéo dài khoảng một giờ đồng hồ với ngài còn có Cha Volodymyr Kyrylyuk, hiệu trưởng chủng viện của Giáo phận Latinh Kamyanets-Podilskyi và là linh mục tình nguyện phục vụ một đơn vị binh sĩ, người mà ngài cung cấp sự hỗ trợ mục vụ. Ngài cũng là thành viên của Ủy ban Linh mục Quân đội thuộc Hội đồng Giám mục Latinh tại Ukraine.

Cũng có mặt là Sơ Nelia Kutsak, một thành viên của cùng ủy ban, và Tatiana Goncharuk, một nhà tâm lý học. Từ năm 2014, cả hai đã làm việc với các binh sĩ và gia đình của những người đã hy sinh trong khi vẫn tiếp tục giảng dạy tại Trường Đào tạo Linh mục.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV một lần nữa kêu gọi chấm dứt bạo lực ở Ukraine và bày tỏ sự tiếc nuối về "các cuộc tấn công bạo lực gần đây đã nhắm vào nhiều thành phố và cơ sở hạ tầng dân sự ở...".

"Tất cả họ đều tự giới thiệu với Đức Giáo Hoàng và xin phép lành cho công việc phục vụ của mình," Đức Cha Honcharuk giải thích. "Chúng tôi nhận được phép lành này từ Đức Thánh Cha không chỉ cho riêng mình mà còn cho tất cả những người đang nỗ lực bảo vệ mạng sống con người."

Về phần mình, Giám mục cho biết ngài đã nhiều lần cảm ơn Đức Giáo Hoàng: "Tôi cảm ơn ngài vì những lời cầu nguyện, sự quan tâm và tất cả những gì ngài làm để hỗ trợ đất nước chúng tôi. Và cũng cảm ơn sự giúp đỡ của ngài trong việc giải phóng các tù nhân và đưa các em nhỏ trở về nhà. Tôi nói rằng chúng tôi trông cậy vào những lời cầu nguyện và sự hỗ trợ của ngài vì đó là nguồn sức mạnh to lớn đối với chúng tôi."

Đức Cha Honcharuk cũng nhắc lại lời mời Đức Giáo Hoàng đến thăm Ukraine: "Đó sẽ là một dấu hiệu tuyệt vời đối với chúng tôi. Trong trường hợp đó, tôi nói với ngài, ngài sẽ phải đến Kharkiv."

Đức Cha cho biết ngài sẽ mang về giáo phận và giáo dân của mình, những người đang kiệt sức vì bom đạn và bạo lực, những lời khích lệ của Đức Giáo Hoàng: "Ngài nói rằng mọi việc đang được thực hiện để chấm dứt cuộc chiến này; rằng rất nhiều công việc đang được tiến hành theo hướng này, " cả về mặt ngoại giao và tâm linh.

"Đối với chúng tôi, điều này rất quan trọng vì nó giúp chúng tôi hiểu rằng chúng tôi không đơn độc, rằng thế giới thấy rõ ai là nạn nhân và ai là kẻ gây hấn," Giám mục Kharkiv tiếp tục.

Các chuyến thăm Ukraine mùa hè này của Đức Tổng Giám Mục Paul Richard Gallagher, Thư ký phụ trách quan hệ với các quốc gia của Vatican, và Hồng Y Matteo Zuppi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý, gọi tắt là CEI, cũng rất quan trọng trong vấn đề này.

"Những điều này chứng tỏ Tòa Thánh đang nỗ lực hết sức trong khả năng của mình. Nói cách khác, họ đang sử dụng toàn bộ ‘kho vũ khí’ của mình, tất cả các công cụ sẵn có, để thúc đẩy sự nghiệp này," Giám mục nhấn mạnh.

Khi Ukraine bước vào một mùa đông chiến tranh khác, Henry Wilson-Smith của CAFOD mô tả một cộng đồng dân cư sống trong tình trạng báo động không kích gần như thường xuyên, chuẩn bị cho việc mất điện và phụ thuộc vào...

Giọng nói của Giám mục thay đổi khi được hỏi về cuộc sống hiện tại của người dân ở Kharkiv, nơi hàng ngàn người đã thiệt mạng, vô số người khác bị thương và các cuộc không kích vẫn tiếp diễn không ngừng nghỉ - một trong những cuộc không kích gần đây nhất diễn ra vào ngày 8 tháng 9.

"Đây vừa là một câu hỏi rất đơn giản, lại vừa là một câu hỏi rất phức tạp," ngài trả lời.

"Nó đơn giản vì chúng ta thấy những gì đang xảy ra. Nó phức tạp vì chúng ta đang chứng kiến những cuộc tấn công liên tục nhằm vào thường dân, nhằm vào các kho hàng - một cỗ máy giết người thực sự. Nhiều người đang chết, trẻ em đang chết, người dân đang mất nhà cửa. Điều này thực sự giống như một cuộc diệt chủng người dân Ukraine."

Theo Giám mục Honcharuk, dường như phía kẻ gây hấn có "mong muốn loại bỏ".

Ngài cũng đưa ra những đánh giá gay gắt tương tự về các cuộc đàm phán gần đây liên quan đến Ukraine, bao gồm cả các phái viên của Mỹ tại Mạc Tư Khoa và Kyiv, các cuộc đàm phán giữa Tổng thống Trump và Putin, những động thái cởi mở rõ ràng của tổng thống Nga, và tuyên bố của Tổng thống Ukraine Zelenskiy về khả năng thỏa hiệp chỉ khi Mạc Tư Khoa nhượng bộ điều gì đó.

"Đây chỉ là một trò chơi," Giám mục Kharkiv nói. "Nếu tất cả những điều này là có thể, thì nó đã được thực hiện từ lâu rồi."

Đức Giám Mục nhấn mạnh rằng cuộc chiến ở Ukraine không "giống như một trận túc cầu". "Chúng ta không nên nhìn vào việc ai thắng và ai thua."

Có người đang chết, có người sẽ mang vết sẹo suốt đời, và có người kinh hoàng vì "có những kẻ muốn xâm nhập vào quốc gia này để tiêu diệt nó."

"Đó chính xác là việc gieo rắc nỗi sợ hãi và cái chết," ngài khẳng định.

Hy vọng chiến tranh sẽ sớm kết thúc.

Như vậy, Giám mục Honcharuk hy vọng rằng "chiến tranh sẽ kết thúc càng sớm càng tốt".

" Chúng ta cầu xin Chúa cho tình yêu của Ngài thấm đẫm vào trái tim mọi người. Bởi vì nếu tình yêu của Chúa ngự vào trái tim tôi, nó sẽ nâng cao phẩm giá của tôi. Và chỉ khi nào, với tư cách là một con người, tôi cảm nhận được phẩm giá của chính mình, tôi mới có thể nhìn thấy phẩm giá của người khác. Mọi cuộc chiến tranh đều bắt đầu khi con người thiếu đi trái tim," ngài kết luận.


Source:Vatican News